Pháp Luân số 1
Share on facebook
Share on twitter
Share on email
Lượt xem: 258

Sau khi thành đạo dưới cội bồ-đề bên dòng sông Ni-liên, đức Phật Thích-ca Mâu-ni muốn đem “như thật tri kiến” của mình đã chứng ngộ ra giáo hóa chúng sanh.

Ngài đã đến vườn Nai thuyết pháp cho những người bạn cũ đang tu khổ hạnh ở đây, đó là năm anh em Kiều Trần Như. Sau khi nghe Pháp, họ liền quy y và trở thành đệ tử đầu tiên của Phật. Theo lịch sử đây là lần đầu tiên đức Phật thuyết pháp, và cũng từ đây, bánh xe Chánh pháp bắt đầu chuyển dịch, trong sự nghiệp hoằng pháp độ sanh của Ngài. […]

Tam bảo là chỉ cho ba ngôi báu hiện đang hiện hữu tại thế gian này.

Chúng chính là đối tượng để cho mọi người ở thế gian này qui ngưỡng tôn kính và thừa sự Phật; và được học tập thực hành những lời dạy của Ngài về giải thoát khổ, để đạt được an vui như chính Ngài đã đạt, từ nơi các tập đoàn Tăng hòa hợp thanh tịnh hướng dẫn mọi người hoàn thành sứ mạng giải thoát khổ đau, và đạt an vui Niết-bàn. Đó chính là ba ngôi quí báu nhất ở trên đời này. […]

(PLO) Bức tranh toàn cảnh Phật giáo Đất Phương Nam có màu sắc đặc thù mang tính dung hợp, dung hợp tộc người đa chủng dung hợp văn hóa giao lưu, dung hợp văn minh quần tụ và đặc sắc hơn cả là dung hợp tông phái Phật giáo.

VÀI NÉT VỀ PHẬT GIÁO ĐẤT PHƯƠNG NAM

Nét chính
I. Giới thiệu
II. Thời điểm và Ngả đường thành hình Phật giáo Đất Phương Nam
III. Đất Phương Nam
IV. Người Phương Nam
V. Phật giáo Đất Phương Nam

Nội dung
I. Giới thiệu

Định hình nên dòng chảy Phật giáo Việt Nam có thể phân làm bốn vùng không gian:
• Phật giáo Đất Luy Lâu
• Phật giáo Đất Thăng Long
• Phật giáo xứ Huế (cũng có thể gọi là Phật giáo Thuận Quảng: Thuận Hóa – Quảng Nam)
• Phật giáo Đất Phương Nam

Nội dung bài nầy nói về Phật giáo Đất Phương Nam.

Bức tranh toàn cảnh Phật giáo Đất Phương Nam có màu sắc đặc thù mang tính dung hợp, dung hợp tộc người đa chủng dung hợp văn hóa giao lưu, dung hợp văn minh quần tụ và đặc sắc hơn cả là dung hợp tông phái Phật giáo. Từ trước, nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, kể cả cán bộ chuyên trách về tôn giáo, v.v… tất cả, họ đã phác họa nên nhiều nét về Phật giáo Đất Phương Nam qua nhiều tham luận, hội thảo, sách báo v.v… như, nhiều tác giả, Hội thảo khoa học 300 năm Phật giáo Gia Định – Sài Gòn – Tp. Hồ Chí Minh, Nxb TP. HCM; Trần Văn Giàu – Lịch sử phát triển tư tưởng Việt Nam T.1 & 2, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội 1975; Lê Cung – Phong trào Phật giáo 63, Trần Hồng Liên – Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam bộ, Nxb KHXH 2004, Trần Trọng Kim – Phật giáo thuở xưa và nay, Sài Gòn 1953; Hòa thượng Thích Thiện Hoa – 50 năm chấn hưng Phật giáo, Sài Gòn 1971, Vân Thanh – Lược khảo Phật giáo Việt Nam, Sài Gòn 1974, Quốc Tuệ – Công cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam, Sài Gòn 1964; Gia đình Phật tử miền Liễu Quán – Kỷ yếu 50 thành lập gia đình Phật tử, Hoa kỳ 2000; Kim Đạt – Lịch sử gia đình Phật tử, Phật học viện quốc tế Hoa Kỳ 1981; Nguyễn Hiền Đức – Lịch sử Phật giáo Đàng trong. Học giới nói về chủ đề nầy riêng có Nguyễn Hiền Đức là cây bút đã phác họa nên những nét cốt lõi của Phật giáo Đất Phương Nam. Từ đó, sinh hoạt Phật giáo Đất Phương Nam qua nhiều mặt đã được bàn đến như: Chấn hưng Phật giáo, Chùa xưa Phật giáo, Giáo dục Phật giáo, Hình thái Tổ chức các hội Phật giáo, Phong trào Phật giáo, Văn hóa Phật giáo, mà trong đó chủ đề cốt lõi là Truyền thừa Phật giáo (hay dòng-phái Phật giáo). Để góp phần tìm hiểu chân xác hơn về Phật giáo Đất Phương Nam trong bối cảnh không gian và thời gian mà công hạnh Tổ đạo đã dày công trải rộng thông điệp tình thương Phật đà trên vùng đất mới; cũng để từ đó định ra một hướng đi hoằng pháp trong thời đại mới trên nền tảng kế thừa truyền thống 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam đã đề ra: Đạo Pháp trong lòng Dân tộc.

Với đôi điều suy nghĩ như thế, vài nét về Phật giáo Đất Phương Nam được giới thiệu theo mấy tiêu đề như sau:

II. Thời điểm & ngả đường thành hình Phật giáo Đất Phương Nam
1. Thời điểm thành hình Phật giáo Đất Phương Nam

Năm 1698 là mốc thời gian chính thức thành lập vùng đất Sài Gòn -Gia Định, từ đó mở ra một giai đoạn mới cho sự phát triển trên vùng Đất Phương Nam. Đi những bước song hành cùng với đoàn người mở đất, Phật giáo cũng đã gieo hạt trên vùng đất mới. Cũng ví như mạch nước ngầm, thêm sức sống cho sự sống, khi mà đất cho mùa, vụ, làng được dựng lên, thì cũng là lúc niềm tin Phật nở hoa trong lòng người xa xứ theo âm điệu mõ sớm với chuông chiều: “Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo, của làm duyên chớ ngại bao nhiêu, phép thiêng biến ít thành nhiều, nhờ trên Tôn giả chia đều cho chúng sanh”. Tuy nhiên trước thời điểm làng xã được thành hình thì người dân đi mở đất cũng như bước chân truyền giáo của bậc Tổ đạo đã có mặt trên vùng đất mới từ bao đời rồi. Thời điểm Phật giáo vào Đất Phương Nam được biết là vào đầu thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20 Tây Lịch.

2. Ngả đường thành hình Phật giáo Đất Phương Nam

Trước đời Gia Long (1802-1819) Đất Phương Nam có tên là Gia Định thành. Đến đời Minh Mạng (1820-1840) đất Nam Kỳ được chia làm sáu tỉnh, từ đó đất nầy còn có tên gọi là Nam Kỳ lục tỉnh.

NHÀ NGUYỄN NAM KỲ
Lục tỉnh:
1.    BIÊN HÒA
2.    GIA ĐỊNH
3.    ĐỊNH TƯỜNG
4.    VĨNH LONG
5.    AN GIANG
6.    HÀ TIÊN

Ngả đường Phật giáo định hình nên vùng Đất Phương Nam có bốn nguồn chính, đó là:

• Phật giáo Huế vào:

Nguyễn Hoàng vào trấn giữ Thuận Hóa, năm 1601 chúa cho dựng chùa Thiên Mụ (chùa được dựng trên nền chùa cũ của người Champa). Quốc chúa là người dùng Phật giáo để trợ hóa trong chính sách An Dân, do đó Phật giáo sớm phát triển và trải rộng vào Nam. Phật giáo Đất Phương Nam đón nhận Phật giáo Bắc tông từ nguồn Phật giáo Huế mà bên cạnh đó có pha trộn ít nhiều tính chất Phật giáo cung đình. Đào Duy Từ một công thần của đất Nam Hà, ông học Phật, hiểu sâu tư tưởng Phật giáo thâm thúy. Ông có soạn vở tuồng Đấu Chiến Thắng Phật, từ đó cho thấy bằng loại hình sân khấu qua con đường văn nghệ ông muốn Phật hóa Nam Hà.

• Từ Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) Trung Hoa đến.

Trần Thắng Tài là một trong những tướng lưu vong của nhà Minh, không về phục nhà Thanh, ông đã cầm đầu đoàn thuyền sang Đại Việt lánh nạn, nhóm người nầy được chúa Nguyễn cho định cư ở vùng Đồng Nai – Biên Hòa. Trong số đoàn người di cư nầy có cả những nhà sư Phật giáo. Chính vì thế đoàn người Trần Thắng Tài đã có người đóng vai trò “lật đá khơi ngòi giếng” cho hoa từ bi chớm nở trên vùng Phật giáo Đất Phương Nam vào thế kỷ 17.

• Từ Campuchia xuống, thuộc Phật giáo Nam tông.

Năm 1936, Hòa thượng Hộ Tông đem Phật giáo Nam tông từ Campuchia vào vùng Đất Phương Nam. Từ đó Phật giáo Nam tông định hình trên vùng đất này.

• Yếu tố Phật giáo bản xứ trên vùng Đất Phương Nam.

Nhiều nơi trên vùng Đất Phương Nam còn sót lại dấu vết chùa cũ trên vùng đất Chân Lạp của người Khơ me trước khi Phật giáo Huế vào đây, điển hình là chùa Gò (Phụng Sơn) Gia Định được dựng trên nền chùa cũ của người bản xứ. Rải rác nhiều chùa khác, người ta đào được tượng Phật, chuông đồng, đồ dùng trong nhà chùa, kể cả phù điêu có nội dung Phật giáo; điển hình là Pháp thân kệ khắc trên lá vàng mỏng được tìm thấy ở gò Xoài, Long An. Như vậy yếu tố bản địa từ Phật giáo Chân lạp (Founan) còn sót lại trên vùng Đất Phương Nam, nhân tố nầy đã duy trì niềm tin Phật cho cư dân nơi đây trước khi Phật giáo Bắc tông truyền vào xứ này.

ST. (Còn tiếp)
[Tập san Pháp Luân – số 1, tr.8]

(PLO) Đời Ngài Kassapa là cả một bài thơ, một bài thơ sống động giải thoát, một bài thơ đầy những hình ảnh khả ái, khả kính của một đại nghệ sĩ, một đại Thiền sư.

Đại Ca-diếp (Māha Kassapa)

Māha Kassapa là người làng Bà-la-môn mahā-Tiṭṭha, gần thành Rājagaha (Vương Xá) thuộc nước Magadha (Ma-kiệt-đà), Ngài còn có tên là Pippali-mānava, con bà vợ chánh của Bà-la-môn Kanila. Vị Bà-la-môn này tuy giàu có địch quốc (chỉ có thể đem so sánh với Bình Sa Vương, nước Ma-kiệt-đà), ông ta cùng kết giao với Bình Sa Vương, tạo ra rất nhiều tội ác. Mặc dù, Ngài sống trong cảnh giàu sang phú quí, nhưng tâm niệm lúc nào cũng nghĩ đến việc thoát ly gia đình. Tâm niệm này chúng ta tìm thấy trong cuộc đối thoại giữa Ngài và ngài Ananda trong kinh Tương Ưng: “Này Hiền giả, trong khi ta còn là gia chủ, ý nghĩ sau đây được khởi lên: Thật đẹp thay đời sống tại gia, đầy những bụi đời; còn xuất gia như đời sống lộ thiên. Thật không dễ dàng ở trong gia đình mà có thể sống phạm hạnh, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo râu tóc, đắp ca sa, xuất gia, từ bỏ gia đình”. Mặc dù Ngài có ý nghĩ như vậy, nhưng đối với song thân, Ngài là con nên mọi việc điều tùy thuận ở cha mẹ. Ngay đến việc lập gia đình, ban đầu không chịu nhưng rốt cuộc rồi ngài cũng chịu theo ý cha mẹ để làm vừa lòng song thân khi còn tại thế. Ngài cho làm một tượng thiếu nữ bằng vàng trẻ đẹp, mặc áo đỏ và đeo đồ trang sức. Ngài nói với song thân rằng, nếu cha mẹ tìm cho con được một thiếu nữ như vậy thì con sẽ chịu lập gia đình. Bà mẹ liền sai các Bà-la-môn đem tượng vàng ấy đi khắp nước, làm sao phải tìm cho được một thiếu nữ giống như vậy cho bà. Sau những ngày lặn lội tìm kiếm, một hôm, họ đến bên cạnh bờ sông nọ tại Sagāla ngồi nghỉ và đặt tượng vàng xuống cạnh bờ sông. Bỗng có một thiếu phụ từ dưới sông đi lên, thấy bức tượng, tưởng đâu là Bhaddā – người mà bà đã nuôi nấng lâu nay và nói Bhaddà sao lại thiếu giáo dục như vậy, đánh nàng nơi má và sau khi đánh mới biết được rằng đó không phải là Bhaddā mà là một bức tượng bằng vàng. Sau khi bà vú của Bhaddā biết được việc như vậy, mới dẫn các Bà-la-môn về nhà, cho thấy Bhaddā và họ nhận ra rằng bức tượng giống như đúc Bhaddā. Sau đó, họ đưa tin về Kapili. Nhưng cả hai người Pippali-mānava và Bhaddā đều không muốn lập gia đình, nên cả hai viết thư cho nhau để nói rõ quyết định của mình. Hai người đưa thư gặp nhau giữa đường, đưa thư cho nhau coi và hai bức thư được đánh tráo bằng hai bức thư khác. Do vậy, đám cưới được khởi hành. Nhưng trong đêm tân hôn, hai người nằm cách nhau bằng một tờ giấy hoa và cho đến khi cha mẹ Ngài mạng chung vẫn còn giữ như vậy. Do đó cho nên Ngài được nổi tiếng về hạnh thanh tịnh. Không những Ngài nổi tiếng về hạnh thanh tịnh mà còn nổi tiếng về học rộng tài cao, thông minh quán chúng.

Sau khi song thân Ngài qua đời, cả hai cùng quyết định xuất gia. Hai người cùng mặc áo vàng, cắt tóc, mang bình bát, trước cùng đi với nhau, sau thấy bất tiện nên từ giã nhau. Pippala-mānava đi về phía mặt, Bhaddā đi về phía đường bên trái. Trước quả đức như vậy, quả đất rung động và Thế Tôn biết được nguyên nhân, ra ngồi giữa đường. Từ Nalandā đến Rājagaha, tại đền Bahaputta gặp đức Thế Tôn, Mahā Kassapa cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn là bậc Thầy, tự nhận mình làm đệ tử. Khi đức Thế Tôn nghe Mahā Kassapa nói như vậy. Ngài nói với Mahā Kassapa: “Này Kassapa, những ai với tâm trọn vẹn đầy đủ, không thấy mà nói rằng ta thấy, đầu người ấy sẽ vỡ tan. Còn ta, này Kassapa, ta biết thời ta nói ta biết, ta thấy thời ta nói ta thấy! Do vậy này Kassapa, người phải học tập một tâm tàm quý thật sắc sảo sẽ được phải thiết lập giữa các vị Trưởng lão, niên thiếu và trung niên. Do vậy, này Kassapa, ngươi phải học tập ‘phàm pháp gì tôi nghe, liên hệ đến thiện, sau khi đặc biệt chú ý, tác ý, tập trung tất cả tâm lực, tất cả pháp ấy tôi đều lóng tai nghe’. Do vậy, này Kassapa ngươi phải học tập ‘phàm niệm gì thuộc về thân hành, câu hữu với hỷ ta sẽ không bỏ niệm ấy’”.

Sau đó đức Thế Tôn cùng Mahā Kassapa trở về Māgadha. Ở đây, suốt bảy ngày Mahā Kasssapa tu tập theo hạnh đầu đà không gặp lại Thế Tôn. Thời gian này, Mahā Kasssapa đang còn phiền não, đến ngày thứ tám chánh trí khởi lên. Lúc này đức Thế Tôn cũng từ trên đường bước xuống và đi đến một gốc cây. Mahā Kasssapa liền gấp tư tấm y Tăng già lê làm bằng vải rồi bạch đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ngồi xuống ở đây, để con được hạnh phúc an lạc lâu dài”. Sau đó, đức Thế Tôn ngồi xuống và nói với Mahā Kasssapa rằng: “Thật là mềm dịu, này Kasssapa, là tấm y Tăng già lê nầy làm bằng vải cắt của ngươi”. “Bạch đức Thế Tôn, mong rằng Thế Tôn nhận lấy tấm y làm bằng vải cắt này từ nơi con, vì lòng từ mẫn đối với con”.

“Này Kasssapa, ngươi có dùng tấm y phấn tảo bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của ta không?”.

“Con sẽ dùng, bạch Thế Tôn, tấm y bằng vải thô đáng được quăng bỏ của Thế Tôn”. Như vậy, ngày ấy, Mahā Kasssapa đã chính thức thừa tự Chánh pháp của Như Lai. Cũng theo đoạn hội thoại giữa Ngài cùng Tôn giả Ananda trong kinh Tương Ưng (Pāli) thì Ngài kể rằng, sau tám ngày tu tập chánh trí đã khởi lên và Ngài đã chứng A-la-hán quả, thành tựu 9 định và 5 thắng trí (sau đây chúng tôi sẽ đề cập đến).

Trong hàng đệ tử của Thế Tôn có nhiều vị cùng mang tên Ca-diếp. Nên để phân biệt các vị kia, kinh thường gọi vị đệ tử nầy là Mahā Kassapa, hay là Đại Ca-diếp.

Lại nên biết rằng theo Bắc tông thì sau khi đức Phật nhập diệt, Mahā Kassapa là sơ Tổ và theo Nam tông thì chính Ưu-ba-ly mới là sơ Tổ. Chúng tôi nêu lên hai sử liệu này là để tiện nghiên cứu sau này chính xác hơn.

Sở nguyện của Ngài là tu theo hạnh đầu đà. Hạnh này Ngài khư khư giữ cho đến hơi thở cuối cùng.

Tu theo hạnh đầu đà thì cần phải giữ đúng mười điều sau đây:

1- Chọn vùng hoang vắng để ở.
2- Sinh hoạt bằng pháp trì bình.
3- Thường ở tại một nơi.
4- Ngày ăn một bữa (ngọ thực).
5- Khất thực không phân biệt giàu nghèo.
6- Không có tài sản nào khác ngoài ba y (Tăng-già-lê, Uất-đa-la, An-đà-hội) một bình bát và một ngọa cụ.
7- Tư duy dưới gốc cây.
8- Thường ngồi giữa đồng trống.
9- Mặc áo phấn tảo.
10- Sống tại các bãi tha ma.

Sinh hoạt theo hạnh đầu đà là một lối sinh hoạt rất đơn giản nhằm mục đích thanh tao hóa tâm hồn, cởi bỏ mọi trói buộc có thể có vì cuộc sống, rất thích hợp với những ai thích tu phạm hạnh như Ngài Kassapa. Tuy lối tu này có vẻ đơn giản nhưng không vì thế mà ai cũng có thể thực hành được. Vì muốn thực hành được chúng thì cần phải là người biết sống, có nghĩa là phải là người biết tri túc trong một giới hạn nào đó của cuộc sống và không đòi hỏi những điều ngoài khả năng của mình và của người. Bởi vậy cho nên lối sinh này cần phải tri túc. Ngài Kassapa có đầy đủ bốn loại tri túc này: thứ nhất về y, thứ hai về đồ ăn khất thực, thứ ba về sàng tọa, thứ tư về thuốc men trị bệnh. Theo Ngài với bất cứ loại y nào và không vì y mà Ngài sẽ làm điều bất chính, bất xứng. Nếu không được y thì Ngài sẽ không giao động và nếu được y thì Ngài sẽ dùng y ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hiểm, quán xuất ly với trí tuệ. Ngài sẽ tri túc với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào với bất cứ loại sáng tạo nào v.v… Với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào và không vì chúng nếu không được sẽ không làm điều bất chính, bất xứng, không bị giao động và nếu được Ngài sẽ dùng chúng không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy tai hại và quán xuất ly với trí tuệ.

“Từ trú xứ bước xuống     
Ta vào thành khất thực
Ta cẩn thận đến gần         
Một người cùi đang ăn
Với bàn tay lở loét         
Nó bỏ vào một muỗng
Khi bỏ vào muỗng ấy         
Ngón tay rời rơi vào
Dựa vào một chân tường     
Ta ăn miếng ăn ấy
Đang ăn và ăn xong        
Ta không cảm ghê tởm
Miếng ăn đứng nhận được     
Xem như thuốc tiêu hơi
Chỗ nằm dưới gốc cây         
Và y từ đống rác
Ai thọ dụng chúng được     
Được gọi người bốn phương”

Đời Ngài Kassapa là cả một bài thơ, một bài thơ sống động giải thoát, một bài thơ đầy những hình ảnh khả ái, khả kính của một đại nghệ sĩ, một đại Thiền sư. Cuộc đời của Ngài đã vượt lên trên mọi giới hạn của con người, không vợ, không con, không nhà cửa, không tiền tài danh vọng, Ngài đã chặt đứt mọi sợi dây trói buộc của thế gian, sống làm bạn với đất trời bao la, với cây đồng cỏ nội, với đồng núi cheo leo, với muôn cầm nghìn thú, với dòng suối chơi vơi. Đói thì đi xin ăn, rách thời tìm đến những đống rác nhặt lấy những mảnh giẻ rách được vất đi mang về giặt giũ vá chằm vá đắp cốt để che nắng che mưa cốt để khỏi bị bức bách vì thịt da giả tạm. Cuộc sống như thế, theo Ngài nó đã mang lại cho Ngài hai điều lợi ích. Hai điều lợi ích này Kassapa đã trình bày cùng đức Thế Tôn nhân khi về thăm Phật, và được đức Thế Tôn tán thán công hạnh của Ngài trước đại chúng: “Này Kassapa, ngươi thấy có lợi ích gì, mà ngươi đã lâu ngày sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng?”

“Bạch Thế Tôn! Con là người đã lâu ngày sống ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng. Con là người đi khất thực, và tán thán hạnh khất thực. Con là người mang y phấn tảo, và tán thán hạnh mang y phấn tảo. Con là người mang ba y, và tán thán hạnh mang ba y. Con là người thiểu dục, và tán thán hạnh thiểu dục. Con là người tri túc, và tán thán hạnh tri túc. Con là người sống không giao thiệp, và tán thán hạnh không giao thiệp. Con là người tinh cần, và tán thán hạnh tinh cần.”

“Bạch Thế Tôn! Con thấy có hai lợi ích nên đã lâu ngày sống ở rừng và tán thán những hạnh trên. Bạch Thế Tôn, con thấy tự mình được hiện tại lạc trú và vì lòng từ mẫn đối với chúng sanh sắp đến, vì rằng các chúng sanh sắp đến sẽ bắt chước: ‘Đối với các vị đệ tử Phật và tùy Phật. Mong chúng trong một thời gian dài trở thành những vị sống ở rừng và tán thán tất cả những hạnh đó’. Chúng sẽ thực hành như vậy trong một thời gian dài, chúng sống hạnh phúc an lạc. Bạch Thế Tôn, vì thấy hai lợi ích này nên con sống hạnh đầu đà như vậy”.

“Lành thay, lành thay Kassapa! Thật vì hạnh phúc cho quần sanh, này Kassapa ngươi đã thực hành như vậy, vì an lạc cho quần sanh, vì lòng từ mẫn đối với đời, vì lợi ích vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người.

Do vậy này Kassapa hãy mang vải thô phấn tảo, đáng được quăng bỏ, hãy sống khất thực và trú ở rừng”.

Ngoài hai lợi ích trên, núi rừng bao la mang nhiều hấp dẫn khiến cho Ngài thích thú, thích thú những cuộc leo núi đá sau khi khất thực trở về:

“Đi khất thực trở về
Ca-diếp leo tảng đá
Ngồi thiền, không chấp thủ
Đoạn sợ hãi kinh hoàng.”

“Đi khất thực trở về
Ca-diếp leo tảng đá
Ngồi thiền, không chấp thủ
Đã đốt cháy thanh lương.”

“Đi khất thực trở về
Ca-diếp leo tảng đá
Ngồi thiền, không chấp thủ
Xong việc không lậu hoặc.”

Những tảng đá cheo leo là nơi an trú của Ngài, là chỗ thanh vắng mát mẻ để cho Ngài ngồi thiền. Cảnh rừng núi hoang vu vắng vẻ này là một trợ duyên lớn trong việc an trú tâm vào định, khi đã có định thì sự sợ hãi kinh hoàng cũng bị bẻ gãy, và tất cả những gì mà thế gian gọi là mát mẻ tươi vui của vật chất đều bị Ngài đốt cháy tận gốc rễ và để tiến tới việc chọc thủng màn lưới vô minh. Cảnh rừng núi làm trợ duyên như thế trong việc chặt đứt cội rễ vô minh thì ai trong chúng ta lại không thích huống chi là Ngài. Ngoài trợ duyên này, rừng núi biết bao nhiêu là những trợ duyên cho Ngài, đã từng hấp dẫn và cuốn hút Ngài trong suốt cuộc đời. Những cụm hoa rừng tuyệt diệu đã được những mảnh đất khả ái nuôi dưỡng như chính đất đá đã nuôi dưỡng tâm tính của Ngài:

“Khu đất thật khả ái
Với những vòng tràng hoa
Hoa tên Ka-rê-hi
Trải rộng ra cùng khắp
Với voi rú khả úy
Đồi núi ấy ta thích.”

“Tràn đầy hoa cây gai
Như trời phủ làm mây
Đầy mọi loài chim chóc
Đồi núi ấy ta thích.”

Làm sao Ngài không thích với cảnh trí thanh tú đẹp đẽ của núi rừng, những tràng hoa được trải rộng ra, đủ mọi thứ đã che chở tâm tình của Ngài, giống như những làn mây phủ kín trang hoàng trú xứ của Ngài. Những tràng hoa, tiếng kêu ríu rít của chim muông, và tiếng khỉ vượn hú là những bản nhạc thiên nhiên đầy thi vị đã giải khuây cho Ngài trong những giờ nhàn tản. Trong trú xứ này đều được Ngài thi vị hóa tất cả, những đồi núi đối với Ngài là những đồi mây xanh biếc, những tòa tháp đẹp lâu đài. Những con nai, con vượn là những bạn hữu thân thiết của Ngài. Những dòng suối nước chảy róc rách dưới đá băng hòa với tiếng gió reo dào dạt đã khiến cho tâm hồn Ngài trở nên bình lặng an lành. Những hồ nước trong mát soi bóng mây xanh. Tất cả đã tạo nên một thế giới vừa linh động vừa yêu kiều khiến tâm hồn Ngài cũng vui lây, cũng thích thú với tạo vật thiên nhiên này:

“Những hồ nước trong mát
Tuyệt đẹp màu mây xanh
Che kín bởi loài bọ
Tên “kẻ chăn Inda”
Những ngọn núi đá ấy
Làm tâm ta thích thú.”

“Giống đồi mây xanh biếc
Ví tháp đẹp lâu đài
Với vượn hú khả úy
Đồi núi ấy ta thích.”

“Dưới tảng đá băng đá
Có nước suối trong chảy
Có khỉ và có nai
Lai vãng sống gần bên
Cỏ cây bao trùm nước
Đồi núi ấy ta thích.”

Tất cả những tạo vật thiên nhiên đó, đối với Ngài không những thân thương mà còn là trợ duyên trên đường giải thoát của Ngài. Tất cả đối với Ngài bao nhiêu tạo vật đó đã đủ làm trợ duyên cho Ngài tu thiền quán rồi, không cần một điều chi nữa.

“Vừa đủ ta chánh niệm
Hăng hái muốn tu thiền
Vừa đủ ta, Tỳ-kheo
Hăng hái muốn phước lợi.”

“Vừa đủ ta, Tỳ-kheo
Hăng hái muốn an lạc
Vừa đủ ta, Tỳ-kheo
Hăng hái tu Du-già.”

Vì lập hạnh như vậy nên quanh năm suốt tháng, ngày cũng như đêm, mưa cũng như nắng, Ngài Kassapa chỉ thích sống trong rừng sâu, khi thì ngồi tư duy trên tảng đá, khi thì ngồi dưới bóng cây to, hoặc quán sát các cây khô ở các bãi tha ma, chẳng bao giờ ngơi nghỉ, cũng không sợ hùm beo rắn rít, coi thường tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên có thể xảy ra. Mặc ai khuyên can, Ngài vẫn khư khư giữ chặt không hề lay chuyển.

LT. (Còn tiếp)
[Tập san Pháp Luân – số 1, tr.12]

Trên con đường cầu đạo giải thoát vô thượng Bồ đề, những người xuất gia lúc nào cũng ôm ấp một đại nguyện “trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ”.

Trong đó có công ơn của người đàn việt đã đắp xây cuộc sống hôm nay cho chúng ta mà không thể nào quên được. Vì thế trong kinh “Tứ ân” đức Phật đã dạy:

“Muốn tu học đạo mầu
Trước hết thân phải an
Từng bát cơm manh áo
Ân nghĩa đã muôn ngàn.

Ơn nhà nông cày cấy
Ơn người thợ dệt may
Ơn những ai xây đắp
Cuộc sống đẹp hôm nay.”

Cảm theo cái ý ấy, hằng ngày sau mỗi giờ quá đường vị chủ lễ thường phục nguyện:

“Thân phi nhất lũ thường tư chức nữ chi lao,
Nhật thực tam xan mỗi niệm nông phu chi khổ”.

Nghĩa là: Thân này khoác một manh áo đơn sơ nhưng thường nghĩ đến sự vất vả của người thợ dệt. Cơm ngày ăn ba bữa hằng nhớ đến sự khó khổ của kẻ nông phu.

Ý nghĩa của bài kệ ấy là nhằm để “nhắc nhở người xuất gia luôn luôn nhớ đến công ơn của người đàn việt”.    

I. Công ơn của người đàn việt:

Vật dụng người xuất gia tất cả điều không phải tự mình mà có được. Manh áo đơn sơ mặc trên người là do sự vất vả khó nhọc của người thợ dệt ngày đêm cặm cụi nên. Bát cơm đạm bạc là nhờ công lao cực khổ của người nông phu phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà có được. Cho đến thuốc thang, giường chõng, sách vở, giấy mực, cây kim, sợi chỉ v.v… điều do mồ hôi nước mắt, vất vả đắng cay của bao nhiêu người đem lại.

Người xuất gia hằng ngày được thọ hưởng những đồ ăn thức uống no đủ, mà đôi lúc còn có người đòi hỏi thêm, hay không vừa ý. Trong khi người đàn việt phải dãi dầu nắng mưa, gió bão lam lũ cả một đời nhiều lúc không đủ ăn, thế mà họ vẫn nhín một ít phần ăn của cả gia đình để cúng dường. Chúng ta không dệt vải vẫn có áo mặc dư dả mà không biết quý trọng, không biết mến tiếc, trong khi những người thợ dệt phải vất vả ngày đêm nhiều lúc vẫn không đủ mặc, vẫn chưa đủ ấm. Khi bệnh tật có người đem đến cho ta thuốc quý mong chữa lành bệnh đủ sức khỏe tu hành, trong khi họ không đủ tiền để mua thuốc, hay thậm chí không đủ tiền để chữa trị lành bệnh. Chúng ta mỗi người một giường, đôi khi trải nệm ấm đắp chăm êm, sống trong tự viện đầy đủ tiện nghi; còn có người đàn việt phải nằm đất chõng tre, sống trong mái nhà tranh mục nát. Lấy sự cực nhọc của người để cung phụng cho sự an lành của ta, vậy thì đối với chúng ta phải làm sao cho xứng đáng với công sức của họ! Cho nên đối với những công ơn của người đàn việt thì người đệ tử Phật với đầu tròn áo vuông làm sao có thể nào quên được?

II. Tầm quan trọng của sự cúng dường

Người đàn việt vì muốn vun trồng cội phúc, muốn thoát khỏi biển khổ nên nhịn phần ăn tiêu của gia đình mà đem vật thực đến cúng dường Tam bảo. Nhờ sự cúng dường đó mà người xuất gia không phải bận rộn lo toan về miếng ăn, cái mặc để có thời gian chuyên tâm vào việc nghiên cứu và tu tập, nhằm bảo vệ, giữ gìn và phát huy chân lý Phật đà, giúp cho Phật pháp hưng long và truyền bá khắp nơi, làm cho chánh pháp không bị suy tàn mà vĩnh viễn trường tồn trên thế gian này.

Nếu không có sự cúng dường của người đàn việt thì Tăng Ni không thể tu hành một cách an ổn, vì “có thực mới vực được đạo”. Câu nói tuy đơn giản nhưng không đơn giản tí nào. Không có sự hỗ trợ cúng dường của người đàn việt thì Tăng Ni sẽ không đủ điều kiện hoằng dương chánh pháp. Do đó, sẽ làm cho giáo pháp của đức Thế Tôn suy tàn và dần dần mai một.

Sự ủng hộ vật chất của người đàn việt, đã góp phần rất lớn trong sự nghiệp bảo vệ và giữ gìn ngôi nhà Phật pháp. Tăng Ni có đủ phương tiện tu học; sự hiểu biết, lòng vị tha được phát huy tốt, sẽ góp phần xua tan thù hận cho nhân gian. Dòng nước từ bi mát dịu trong lành sẽ là chất liệu xua tan những tâm hồn tràn đầy những tham vọng cuồng si. Do vậy, sự cúng dường của đàn việt có ý nghĩa rất lớn trong đời sống xuất gia nói riêng và trong sự trường tồn Tam bảo nói chung.

III. Lợi ích của sự cúng dường

Tam bảo là phước điền cho chúng sanh, vì nơi đó chúng sanh gieo một mà hưởng gấp trăm ngàn lần. Ví dụ như có khi vì lòng từ bi bố thí cho một người nào đó khi họ lỡ đường hoặc lúc đói khát, thì phước báo rất ít không bằng cúng dường cho người xuất gia. Vì người xuất gia sống một đời đạo đức, là tấm gương sáng cho mọi người, noi theo và tu tập mong đạt đến sự chứng ngộ để đem đến niềm an lạc cho chúng sanh, làm cho chúng sanh được nhiều lợi ích.

Trong kinh Tứ thập nhị chương phần Bố thí độ, chương XI, đức Phật đã dạy rằng: “Cho một trăm người ác ăn, không bằng cho một người lành ăn; cho một ngàn người lành ăn, không bằng cho một người trì ngũ giới ăn, cho một muôn (10.000) người trì ngũ giới ăn, không bằng cúng dường cho một vị Tu-đà-hoàn ăn; cúng dường trăm muôn (1.000.000) vị Tu-đà-hoàn ăn, không bằng cúng dường cho một vị Tư-đà-hàm ăn; cúng dường cho một ngàn muôn (10.000.000) vị Tư-đà-hàm ăn; không bằng cúng dường cho một vị A-na-hàm ăn, cúng dường cho một ức (100.000) vị A-na-hàm ăn, không bằng cúng dường cho một vị A-la-hán ăn, cúng dường cho mười ức (1.000.000) vị A-la-hán ăn không bằng cúng dường cho vị Bích Chi Phật ăn; cúng dường cho một trăm ức (10.000.000) vị Bích Chi Phật ăn không bằng cúng dường cho một Tam thế chư Phật ăn; cúng dường cho một ngàn ức (100.000.000) Tam thế chư Phật ăn, không bằng cúng dường cho một vị Vô niệm Vô trụ Vô tu Vô chứng ăn.”

Đức Phật nói lên điều này để chứng tỏ rằng cúng dường cho một vị xuất gia thì phước báo rất vô lượng, mà nhất là các vị tu hành chân chính có giới hạnh, có đạo đức và có tâm chứng trong thiền định. Vì đó là một phước điền thật sự cho chúng sanh. Nếu có một người nào may mắn cúng dường cho Phật lúc Ngài còn tại thế thì phước báo của người ấy vô lượng vô biên không thể nói hết được. Chúng tôi nói điều này không phải để khuyên người đàn việt lựa người mà cúng, nhưng đó là sự sai biệt của công đức cúng dường.

Sự cúng dường Tam bảo có công đức rất lớn đối với người đàn việt. Trong đời hiện tại họ thực hành đúng thiện pháp, diệt trừ tâm bỏn xẻn nên tâm dần dần được an lạc. Trong vị lai, nó là cái nhân phước thiện để thoát khỏi cảnh khổ bần cùng, là hạnh căn bản trong các hạnh, để một ngày nào đó có thể bước lên quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác, thoát khỏi vòng sanh tử khổ đau và trở thành một phước điền cho chúng sanh. Như bài kệ sau đây đức Phật đã nói với ông Cấp Cô Độc khi ông dâng cúng tinh xá Kỳ Viên cho Tăng đoàn:

“Hành pháp Phật ấy phước điền chân thật,
Gieo giống lành quả giải thoát về sau.

Hoa nở là khi tâm hết ra vào,
Trong tam giới đầy khổ đau sanh diệt”.

IV. Cúng dường như thế nào mới được lợi ích lớn?

Không phải tất cả việc cúng dường đều có phước báo như nhau mà nó có sự khác biệt nhiều ít. Phước báo tùy thuộc vào sự dụng tâm khi cúng dường của người đàn việt. Sự dụng tâm đó rất quan trọng để chúng ta biết phước báo nhận được nhiều hay ít, vô lậu hay hữu lậu. Đa phần người đàn việt đem vật thực đi cúng dường chỉ vì cầu sự bình an cho gia đình, sự thành đạt trong nghề nghiệp, sự may mắn trong mua bán v.v… Như vậy, phước báo tùy tâm ứng hiện, nhưng đó chỉ là phước hữu lậu, mà phàm cái gì hữu lậu thì không thể tồn tại lâu được. Vì tâm mong cầu vẫn là tâm ích kỷ, tham lam; mà khi ích kỷ tham lam có mặt thì đau khổ sẽ xuất hiện. Một ngày nào đó khi hưởng hết phước hữu lậu, chúng ta lại phải bị đọa lạc trong vòng sanh tử luân hồi.

Có người cúng dường rất nhiều nhưng trong lòng của họ xuất hiện tâm tự cao kín đáo và kiêu mạn ngày càng lớn mà không biết cách diệt trừ thì công đức sẽ bị hao tổn dần. Chỉ cần trong tâm khởi lên những điều bất thiện là công đức đã bị tổn, huống hồ là đem khoe khoang sự cúng dường nhiều ít để người khác nể trọng. Có người cúng dường rất hậu nhưng lại muốn người xuất gia phải chiều theo ý mình, đôi khi không vừa ý họ lại trở mặt nói xấu người xuất gia, làm cho đạo Phật càng suy yếu. Như vậy, quả báo về sau, phước thì vẫn hưởng nhưng tội vẫn phải gánh chịu.

Những điều nói trên là để rút ra bài học kinh nghiệm cho chính mình. Vậy thì cúng dường như thế nào mới có lợi ích lớn? Đàn việt khi đem vật thực đến cúng dường với tâm tôn kính Tam bảo, hộ trì Tam bảo, để quý thầy quý cô đủ điều kiện mà tu hành và giáo hóa chúng sanh quay về chánh đạo, làm tăng trưởng đạo đức của con người để con người sống tốt với nhau hơn giữa thế gian tối tăm này. Vả lại, người xuất gia đâu chỉ có miếng ăn cái mặc mà còn biết bao nhiêu chuyện phải làm; nào là phát huy chân lý Phật đà, dịch kinh ấn tống, việc từ thiện xã hội, việc tổ chức tu học cho Tăng, Ni, Phật tử v.v… cần nhiều tài chính mới có thể quyên góp làm cho được. Chỉ cần trong tâm đàn việt có ý nghĩ đó thôi, thì người này khi sinh ra đời thường được nghe chánh pháp, thường được gần gũi Tam bảo mà tu hành, có nhân lành để trở thành một vị thánh trong tương lai. Vì tâm tùy hỷ cúng dường và vị tha này có thể giúp đàn việt chấp cánh bay ra khỏi tam giới.

V. Thái độ của người xuất gia

Người xuất gia phải luôn biết ơn những tài vật của người đàn việt hiến cúng. Vì mỗi tấc vải, mỗi hạt cơm ân trọng như núi, đầy mồ hôi và nước mắt của đàn việt. Bằng những nỗi vất vả, lo toan, lam lũ quần quật suốt năm này qua tháng nọ để tìm ra manh áo chén cơm đem đến cúng dường, có khi họ phải tạo ra các nghiệp bất thiện dẫn đến sự tổn phước, tâm trí càng lu mờ vì mãi bon chen giữa dòng đời xuôi ngược. Khi đem vật thực đến cúng dường, họ còn dưng hai tay với lòng tôn kính thiết tha, thì ở đây thái độ của người xuất gia phải biết mến tiếc đối vối những vật thực cúng dường của họ, phải biết tôn trọng và yêu thương họ, vì họ cũng là một con người chịu nhiều đau khổ như bao nhiêu người khác, thân thuộc của chúng ta. Người xuất gia phải có tâm bình đẳng không nên phân biệt giàu hay nghèo, không nên chê bai tốt xấu hoặc nhiều hay ít khiến họ nghe được mà sanh lòng phiền não làm giảm tín tâm của họ đối với Phật pháp. Phải khéo léo dùng sự hiểu biết của mình hướng dẫn họ tu tập theo con đường Bát chánh và biết đem công đức cúng dường hồi hướng về quả vị giác ngộ vô thượng chớ đừng mong cầu phước báo ở cõi trời và cõi người. Vì vậy, mỗi người xuất gia cần phải biết ơn và tìm mọi cách để báo ơn người đàn việt, nếu không thì không xứng đáng là một người xuất gia chân chánh. Trong kinh “Biết ơn” đức Phật đã dạy:

“Nếu có chúng sanh nào
Biết ơn và đền ơn
Người này thật đáng kính
Ta luôn luôn tán thán.

Người nhớ ơn đền ơn
Người ấy dù xa ta
Đến trăm ngàn muôn dặm
Cũng không phải là xa
Vẫn gần ta bên cạnh.

Còn có chúng sanh nào
Không nhớ ơn đền ơn
Người ấy dù bên ta
Thân mặc y Ca sa
Vẫn xa ta ngàn dặm”.

Cho nên, người xuất gia đã từ bỏ gia đình, sống cuộc sống không gia đình, chỉ vì lý tưởng giác ngộ giải thoát mọi khổ đau sanh tử luân hồi, chớ không phải vì thức ăn ngon, y phục đẹp, sàng tọa tốt, dược phẩm quý v.v… mà sống trong giới và luật của Thế Tôn. Vì vậy, người xuất gia phải nghĩ đến vô thường mà ngày đêm sáu thời tu tập lời Phật dạy, hầu làm tấm gương sáng cho mọi người noi theo và phải có ý tưởng siêu việt mong cho ta cùng tất cả chúng sanh sớm vượt qua bến sanh tử đến bờ giác ngộ. Cho dù kiếp này không đắc đạo thì trong một kiếp nào đó khi chúng ta rống lên tiếng rống của con sư tử, “Ba minh ta chứng được, lời Phật dạy làm xong”, thì tất cả những người đã từng cúng dường cho ta một hạt gạo hay một bát cơm ở trong kiếp này vẫn được lợi ích rất lớn.

Vì lòng thương tưởng đến chúng sanh, vì muốn cho chúng sanh được an lạc, người xuất gia hãy chuyên cần tu tập để làm một ruộng phước cho chúng sanh gieo trồng. Hãy sống một đời thiểu dục, tri túc, giản dị để giữ hạnh thanh bần mà vui niềm vui đạo pháp; không đa cầu vì “các dục lạc của thế gian là vui ít khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm còn nhiều hơn”. Hãy nghĩ rằng: Khi ta mặc thêm một tấm áo đẹp là chúng sanh đang khổ cực thêm một chút nữa, khi ta ăn một bữa ăn ngon thì đàn việt càng vất vả hơn trăm ngàn lần. Cho nên chúng ta phải biết chế ngự thân tâm, chỉ cần có manh áo đơn sơ để che thân là đủ, chỉ cần có cơm ăn để giữ gìn tấm thân này mà làm phương tiện qua sông. Chúng ta phải lấy mục tiêu: “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” mà hướng đến chớ có dừng lại một mục tiêu nào khác.

Thế Tôn có dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”. Ngày nay chúng ta may mắn được làm thân người, lại xuất gia học đạo nghe được giáo pháp vi diệu của Thế Tôn để lại thì thật là điều đáng mừng. Bên cạnh đó chúng ta còn nhận được sự cung kính cúng dường của mọi người thì phải cố gắng tu hành chớ có ngủ quên trong sự hưởng thụ mà bỏ phí thời giờ trôi qua một cách vô ích theo các dục vọng của thế gian. Chúng ta phải nhớ đến lửa sanh tử ngày đêm thiêu đốt, lẽ vô thường không hẹn một ai mà tu hành cho có kết quả, để làm lợi ích cho chúng sanh và không để công ơn của người đàn việt trở thành vô nghĩa. Nếu không chuyên tâm tu tập thì không những đời này ta không được giải thoát mà muôn kiếp về sau còn phải chịu khổ đau trong biển khổ luân hồi và chỉ tiêu hao của đàn na tín thí. Đó là ta tự đào hố chôn ta chứ chẳng phải một người nào khác. Người xuất gia hãy tinh tấn tu tập vượt khỏi ba cõi sáu đường để làm một cội Bồ-đề rợp bóng mát che chở cho chúng sanh và là một đóa hoa sen tỏa hương thơm ngát, “tuy gần bùn mà vẫn không tanh mùi bùn”.

PN.
[Tập san Pháp Luân – số 1, tr.16]

Leave a Reply

Share on facebook
Share on twitter
Share on email
Lượt xem: 258
Visits: 258
Today: 3
Total: 117360

More Posts

Vĩnh Hảo: Già Lam

Hòa thượng Thích Trí Thủ hộ hương cho các giới tử. Bây giờ là những ngày cuối năm âm lịch. Thiên hạ cùng viết về Xuân, Tết. Tôi muốn

CÔNG HẠNH CỦA BẬC CAO TĂNG

[TƯỞNG NIỆM ĐẠI LÃO HT. THÍCH TRÍ THỦ Nhân lễ Húy kỵ lần thứ 37, 02-3ÂL] CÔNG HẠNH CỦA BẬC CAO TĂNG(Kể Lại Một Vài Chi Tiết Về HT.