Share on facebook
Share on twitter
Share on email
Share on skype

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (1937-2020) vừa rời khỏi dương gian vào sáng sớm (3:00 AM) ngày 11/6/2020, tại Bảo Lộc, Lâm Đồng.

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (1937-2020) vừa rời khỏi dương gian vào sáng sớm (3:00 AM) ngày 11/6/2020, tại Bảo Lộc, Lâm Đồng.

Nguyễn Đức Sơn
Bút danh: Sao Trên Rừng
Biệt danh: Sơn Núi
(18/11/1937 – 11/6/2020)

Nhà thơ, nhà văn

Nguyễn Đức Sơn sinh ngày 18/11/1937 tại làng Dư Khánh, huyện Thanh Hải tỉnh Ninh Thuận, quê gốc ở Thừa Thiên Huế. Ông bắt đầu làm thơ rất sớm với với bút hiệu Sao Trên Rừng. Ông được coi là một người có cá tính đặc biệt. Từ khi tuổi trẻ thơ ông đã chớm hoài nghi, đã thắc mắc về những câu hỏi đầy tính siêu hình. Nguyễn Đức Sơn cùng với Bùi Giáng và Phạm Công Thiện được coi là ba kỳ nhân nổi danh về tài năng và sự quái dị trong làng văn nghệ miền Nam trước 1975. Ông cũng được xem là một trong tứ trụ thi ca của miền Nam, ba người còn lại là Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên.

Nguyễn Đức Sơn đã từng theo học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn nhưng nửa chừng bỏ học. Trong lý lịch trích ngang trong tập thơ Những Bài Tình Đầu, ông viết: “Sống vô gia cư, chết vô địa táng” và tuyên bố: “Nếu trường Đại học Văn khoa Sài Gòn sản sinh ra được một nhà văn nhà thơ nổi tiếng tôi xin chịu chặt đầu.”

Ông ở nhiều nơi Phan Rang, Sài Gòn, Bình Dương – Thủ Dầu Một, Blao – Lâm Đồng và sinh sống bằng nghề dạy học ngoại ngữ. Năm 1967 ông lấy bà Nguyễn Thị Phượng. Đám cưới được tổ chức tại chùa Tây Tạng, Thủ Dầu Một – Bình Dương. Ông bà sinh được 9 người con. Năm 1979, ông đưa gia đình rời bỏ chốn phồn hoa đô thị chuyển lên ngọn núi Phương Bối, Lâm Đồng để sống một cuộc sống thanh tịnh. Đến nay gia đình ông vẫn sống ở đó.

Nguyễn Đức Sơn nổi tiếng là lão thi sĩ vạn thông do ông đã trồng tới hàng vạn cây thông trên ngọn đồi Phương Bối rộng tới hàng chục hec-ta. Ông còn có biệt danh Sơn Núi.

Một số tác phẩm tiêu biểu:
– Bọt nước (Thơ, Mặt Đất xuất bản, Sài Gòn 1965)
– Hoa cô độc (Thơ, Mặt Đất xuất bản, Sài Gòn 1965)
– Lời ru (Thơ, Mặt Đất xuất bản, Sài Gòn 1966)
– Đêm nguyệt động (Thơ, An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1967)
– Cát bụi mệt mỏi (Truyện ngắn, 1968)
– Cái chuồng khỉ (Truyện ngắn, 1969)
– Xóm chuồng ngựa (Truyện ngắn, 1971)
– Vọng (Thơ, An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1971)
– Tịnh Khẩu (Thơ, An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1973)

Theo http://www.thivien.net


Nguyễn Đức Sơn năm 23 tuổi
1960

Tác phẩm tiêu biểu

Truyện ngắn
 
1
Cát Bụi Mệt Mỏi
tập truyện ngắn (An Tiêm 1968)
 
2
Cái Chuồng Khỉ
tập truyện ngắn (An Tiêm 1969)
 
3
Xóm Chuồng Ngựa
tập truyện ngắn (An Tiêm 1971)
 
4
Ngồi Đợi Ngoài Hành Lang 
chưa in
 

tập thơ:

5
Hoa Cô Độc
(Mặt Đất 1965)
 
6
Bọt Nước
(Mặt Đất 1966)
 
7
Lời Ru
(Mặt Đất 1966)
 
8
Đêm Nguyệt Động
(An Tiêm 1967)
 
9
Mộng Du Trên Đỉnh Mùa Xuân
(An Tiêm 1972)
 
10
Tịnh Khẩu
(An Tiêm 1973)
 
11
Du Sỹ Ca
(An Tiêm 1973)

Chiều mới cắt cỏ xong chim về đậu 
mổ tìm ăn sâu bọ thấy gì đâu
chiều trời đẹp tâm tình em không nói
đất với trời chung một nghĩa bơ vơ
khi ngồi nghỉ nhớ câu thơ Bùi Giáng
giữa đất trời ta đứng thấy chơ vơ
khi thấm mệt ta đi luồn ra núi
cuối chiều tà chỉ gặp bãi hoang sơ      
ngừng cắt cỏ nhớ câu thơ Sơn Núi
lại nhớ những rừng dương trên Dran
ngồi thở nhẹ, ngụm trà xanh đã nguội
nhìn mây kia tan biến tự bao giờ
và tối xuống và gió về rất nhẹ
mây của trời rồi gió sẽ mang đi …

Virginia, June 29, 2013
Đinh Cường

Tranh ĐINH TRƯỜNG CHINH kính tiễn nhà thơ Nguyễn Đức Sơn vừa ra đi

kính tiễn
nhà thơ Nguyễn Đức Sơn
vừa ra đi

"Nguyễn Ðức Sơn như một con tê giác, cứ húc bừa húc bãi về phía trước như có một ngọn lửa đốt thâm tâm. Ông lao về những đích đến nhiều khi không định hướng bởi sự thôi thúc nào đó. Với người, ông cáu kỉnh gây sự, không lý gì đến bạn mà cũng chẳng ngại ngùng gì với thù, nói và viết theo ý riêng mình, kiểu của một kẻ quen sống đơn độc trong cách ăn nói cư xử có sự nghiệt ngã phê phán quá đáng. Nhưng với thiên nhiên thì mở lòng ra, thoải mái, rất thong dong ở những vùng biển, vùng núi của những quá khứ, của cuộc sống đã qua, của những mơ ước đã có, đã hằng hiện hữu…".
Bửu Ý

Sơn Núi pha trà
____

ĐINH CƯỜNG

Đi bộ về gặp mưa đứng trú dưới tàng cây 
nhớ Sơn Núi lâu rồi chưa thấy phone qua

Và một chiều mưa
đứng trú dưới tàng cây
thấy một rừng dương xỉ mọc
ôi rừng dương xỉ xanh non

mùa này trên ngọn đồi
ở Đại Lào Bảo Lộc
mấy mụt măng bên hiên chòi
Sơn Núi đã đâm chồi mọc thẳng

Mụt măng cao cả thước
mụt măng bị thằng con phá
Sơn Núi chưởi

Sơn Núi chống cây gậy
bằng thanh cây gì rất đẹp
chiếc áo chemise trắng cũ
ở xa đã nghe giọng …cà lăm

và chiều nay mưa
ôi rừng dương xỉ
và chiều xưa ôi chiều xưa
bước chân ai qua rừng dương xỉ

Chiều đúng trú dưới tàng cây
nhớ bạn giờ này ở Đại Lào
mới sáng, nhớ bụm trà pha
bên bếp củi than hơ ấm bàn tay

Cho tôi gởi lời thăm Phượng
đã ngồi ăn cơm chung chưa
hay còn giận lẫy, thôi Sơn Núi ơi
chúng ta như tàng cây
che mưa tạm… hãy nhìn rừng dương xỉ .

Đinh Cường 
Virginia, May 7, 2013

Nguyễn Đức Sơn, Thơ và Người

Trích từ các bài viết của 5 tác giả
TUỆ SĨ. ĐINH CƯỜNG. NHÃ CA. PHẠM CAO HOÀNG. NGUYÊN MINH

Nguyễn Đức Sơn sinh ngày 18 Nov.1937 tại làng Dư Khánh (Thanh Hải) gần bên bờ biển Ninh Chữ tỉnh Bình Thuận. Học trung học Võ Tánh Nha Trang, Đại học Văn Khoa Saigon 1967.

Đã xuất bản 3 tập truyện ngắn Cát Bụi Mệt Mỏi (An Tiêm 1968), Cái Chuồng Khỉ (An Tiêm 1969), Xóm Chuồng Ngựa (An Tiêm 1971) và tập Ngồi Đợi Ngoài Hành Lang chưa in, 11 tập thơ: Bọt Nước (Mặt Đất 1966), Hoa Cô Độc (Mặt Đất 1965), Lời Ru (Mặt Đất 1966), Đêm Nguyệt Động (An Tiêm 1967), Mộng Du Trên Đỉnh Mùa Xuân (An Tiêm 1972), hai tập cuối cùng là Tịnh Khẩu (An Tiêm 1973) và Du Sỹ Ca (An Tiêm 1973).

Bút hiệu đầu tiên Sao Trên Rừng đã cộng tác với các tạp chí: Bách Khoa, Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi, Văn Nghệ, Khởi Hành, Văn ….

Truyện ngắn “Ý Tưởng Chiều Tà” in trong Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta.


1. TUỆ SĨ:

Sơn Núi

nds_08-contentnds_09-content

Sư Tuệ Sĩ lên Phương Bối Am thăm Sơn Núi.


Anh là ai? Lần đầu tiên tôi gặp anh. Đó là sao trên r ừng. Tôi không cảm thấy ba chữ này phải viết hoa. Trông có vẻ một thư sinh. Cũng hiền lành như những thư sinh khác. Hiền lành, nhưng cũng rất quậy. Một thứ quậy phá của học trò. Anh nói thơ, theo kiểu nói “sùi bọt mép”. Anh cãi lý Phật pháp với sư huynh tôi, học chung một lớp. Anh cãi rất hỗn. Nhưng không hiểu sao, cho tới bây giờ, sư huynh tôi vẫn quý anh. Hình như ông không biết đến m ột “Sơn quậy”, ông đã không đọc đoạn giữa của bài thơ, mà chỉ nhìn th ấy câu đầu và mấy câu cuối:


Nhờ hồng phúc…
Tôi vẫn đang ngủ trên am mây
Với những bậc thầy
Muôn thuở trước

Đoạn giữa, là một đ oạn đời, hay một cuộc đời “hiện sinh.”


Rồi 35 năm sau, vật đổi sao dời; tôi từ trong bóng tối tử tù bước ra, anh từ trên núi lăn xuống. Gặp nhau giữa đống rác Saigon chết. Không thấy gì khác lạ. Tất nhiên là có nhiều thay đổi. Trời đất còn phải đổi thay, non sông còn ph ải đổi chủ, huống gì là một con người, một gã du sỹ. Cái đổi thay này thì th ật là kinh khiếp. Hàng vạn tấn bom không làm cho Thái Bình Dương dậy sóng. Nhưng những bài thơ cóc ngâm, ca tụng thiên đường hạ giới, đã gây những cơn địa chấn làm sập đáy biển, đã nhuộm đỏ biển Đông, đã làm cho cây rừng gục ngã, đã làm cho mồ hôi, nước mắt tuôn ào ạt thành những cơn lũ kinh hoàng.


Tôi tìm đâu một trời thơ, sau nh ững ngày tháng đong đưa trên vực thẳm sống chết?

Ta còn giỡn nữa hay thôi
Khói bay mờ tỏa luân hồi vòng vo
Gửi về đâu một chút tro
Kèn vang lộn mửa tiếng ò í e.


Một cuộc đời mà ta biết; một con người mà ta quen, thủy chung, vỏn vẹn chỉ có thế. Nhưng khi người ấy làm thơ, thì khi ấy, con người thơ, và cõi mộng của thơ, là ẩn ngữ huyền nhiệm. Tôi biết, và cũng có thể chỉ là biết một cách tưởng tượng, rất nhiều người, những người làm th ơ, đọc thơ, và cả những người nguyền rủa thơ; có rất nhiều người nhìn anh v ới cái nhìn ngạc nhiên, tò mò, như đang nhìn một vật thể rất lạ, rất quái lạ. Tôi nhìn anh cũng thấy rất lạ. Nhưng không lạ hơn khi tôi nhìn chính khuôn mặt mình. Cho nên, tôi th ấy mình quen biết anh nhiều hơn là quen biết chính mình.

Người ta hỏi tôi, Sơn là ai? Làm sao tôi trả lời được. Tôi vẫn chưa biết mình là ai.

Tuệ Sỹ


***

Hòa Thương Tuệ Sỹ, quê gốc Quảng Bình, sinh năm 1943 tại Lào. Khi trở về Việt Nam, ông qui y với Hòa Thương Thích Trí Thủ từ năm 7 tuổi. Trước 1975, là giáo sư thực thụ tại Viện Đại Học Vạn Hạnh và là tác giả nhiều công trình nghiên cứu và dịch thuật văn hóa Phật Giáo, ông và sư Trí Siêu Lê Mạnh Thát được coi là hai học giả hàng đầu của Phật Giáo Việt Nam. Sau 1975, học giả Đào Duy Anh từ Hà Nội vào Nha Trang, sau khi đàm đạo với Tuệ Sĩ tại Phật Học Viện Nha Trang, viết “Tuệ Sĩ là viên ngọc quí của Phật Giáo và Văn Hóa Việt Nam. Sau đó, Tuệ Sĩ từng đi tù cải tạo 3 năm. Tháng Tư 1984, Tuệ sĩ và Lê Mạnh Thát bị bắt lần thứ hai. Theo, Wickipedia – bách khoa toàn thư mở, “tháng 9 năm 1988 ông và Lê Mạnh Thát bị tuyên án tử hình vì tội hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân. Tháng 11 năm 1988 sau một cuộc vận động giảm án, bản án được giảm xuống còn tù chung thân. Ngày 1 tháng 9 năm 1998 ông được thả tự do từ trại Ba Sao-Nam Hà ở miền Bắc Việt Nam. Trước khi thả, nhà cầm quyền CS yêu cầu ông ký vào lá đơn xin khoan hồng để gửi lên Chủ tịch Trần Đức Lương. Ông trả lời: “Không ai có quyền xét xử tôi, không ai có quyền ân xá tôi.” Công an nói không viết đơn thì không thả, Thầy không viết và tuyệt thực. Chính quyền Cộng sản đã phải phóng thích ông sau 10 ngày tuyệt thực.” Hai lần ở tù cộng sản của của Hòa Thượng cộng chung 17 năm.


2. ĐINH CƯỜNG:

Nguyễn Đức Sơn – Ngọn Lửa Tịch Mịch

nds_10nds_11

Thơ, thủ bút, 19-11-1987. Đinh Cường – Nguyễn Đức Sơn, hiên nhà Phương Bối Am.

nds_12
Phượng và Đinh Cường trước nhà gỗ.


Thiệp ơi, đọc tháng Tư, nhớ về Saigon của bạn trên blog Nguyễn Xuân Hoàng và bạn hữu …bạn nhắc ở cuối bài, tháng tư vọng lên câu chửi thề nổi tiếng của thi sĩ Sơn Núi làm tôi nhớ Nguyễn Đức Sơn hỗn danh Sơn Núi quá, lật những trang trong quyển vở đã ố vàng, tìm lại những câu thơ mà Sơn đã ghi trong đó, năm 1987, có câu chửi thề nổi tiếng (Lan Bùi đã dịch ra tiếng Anh rất hay) ghi lại cho đúng như thế này:

Đụ mẹ
Cây bông
Hắn không
Lao động
Ai trồng
Chật chỗ
Mày nhổ
Xem sao
Máu trào
Thiên cổ

Và bài kế tiếp: Bông hồng


Mới nở
Mắc cở
Đời hay
Hương sắc
Ai bày
Sáng nay
Ta chết

Từng câu hai chữ, chữ đầu viết hoa …Sơn Núi rất kỹ và khó tánh, sai một chút là chàng ta chửi thề. Đọc hai bài trên, nhớ lại tập Du sỹ Ca, tác phẩm thứ mười một của Nguyễn Đức Sơn, An Tiêm xuất bản năm 1973, có đoạn gần cuối, trang 35: “Địa cầu”.


Địa cầu
Rồi đây
Lụi hụi
Tới ngày
Quá vui
Mày tan
Thành bụi
Tro than
Mê man
Mở đùi
Ta khụi
Kẻo rủi
Một mai
Ai tới
Ai lui
Ai chùi
Vắng lặng

mới thấy thi sĩ là kẻ tiên tri …nói như Rimbaud, địa cầu như càng ngày càng nóng lên với bao nhiêu trận động đất vừa qua …Cuối tập, tác giả viết: “Bài vè này tưởng đã được hoàn tất giữa một đêm rạng sáng ở nhà, trong một cái lò bánh mì đốt củi cũ mục bỏ hoang, đột hứng, tác giả đã phóng đại triển khai thêm một nửa số câu, nằm viết trong nhà đá lởm chởm, nhầy nhụa, chật cứng, bít bùng, chỗ giam của Quân Cảnh Tư Pháp Bảo Lộc, khuya 25 tháng 8 năm 1972 lúc đã được hốt từ lao tỉnh qua.”

Như vậy, câu chửi thề mà Thiệp nhớ, với Sơn là dạng một bài vè ghi lại trong một hoàn cảnh đáng nguyền rủa, ngộp thở …lao động là vinh quang.

Có nên nhắc lại một ít về Sơn không?

Cứ nhớ giọng đọc của Trương Hồng Sơn, tiến sĩ toán, làm viêc tại NASA, Maryland, người bạn học cùng lớp với Nguyễn Đức Sơn thời trung học ở Nha Trang:

Khi thấm mệt tôi đi luồn ra núi
Cuối chiều tà chỉ gặp bãi hoang sơ
Bước lủi thủi tôi đi luồn vô núi
Nghe nắng tàn run rẩy bóng cây khô
Chân rục rã tôi đi luồn ra núi
Hồn rụng rời trước mặt bãi hư vô

Cùng học với thầy Nguyễn Đức Nhơn (thân sinh của Nguyễn Đức Sơn) dạy Pháp văn và thầy Thạch Trung Giả dạy Việt văn, người thầy Sơn rất kính nể.

Trong thư gửi cha từ Blao đề ngày 19.8.1972 thay lời tựa cho tập thơ Tịnh Khẩu:

“…Bởi con mà có cái tham vọng gì, con một thằng sống bằng lửa tịch mịch, bằng hơi lạnh thiên thu. đến cả mộng mơ đích thực còn không có, hay chỉ có toàn là mộng không:

Sáng mênh mông
Ta đi thơ thẩn trong vườn hồng
Ô bông, ồ mộng, ồ không.

Ba không thấy sao, chính cái bọn tự cho mình là trượng phu, là kẻ sỹ, lại là bọn người tha thiết nằm trong cái guồng máy vô tâm, thúc hối cái guồng máy đó nghiền nát không những bao kẻ phiêu hốt mà luôn cả những kẻ nào còn mang trong người chút xíu lẽ công bình còn sót lại với trời đất. Vả chăng, thanh minh, bày tỏ cái gì nữa đối với cái thằng đàn ông đã lê tới và đã đi qua cái đỉnh tịch mịch khốc liệt chưa từng thấy là con? Ôi cái giọng của con, cái giọng thơ văn con, mà ngay cả một người đầy tâm huyết và khí phách với bản tính vô cùng thận trọng là nhà văn hóa đầu bạc phơ Nguyễn Hiến Lê cũng cho là “khác cả thế hệ này nữa vì cá tính quá đặc biệt”.

Bửu Ý trong một tự truyện đăng trên Văn năm 1973 đã viết về Sơn là “hình ảnh của con tê giác, từ tính tình đến cách ăn nói, dáng đi, Húc bừa về phía trước không kể thiệt hơn, không tính hậu quả. Thêm thù và bớt bạn. Đơn độc quắc queo. Dã man nghiệt ngã. Chỉ thong dong ở chốn không người: rừng và biển …’’

Thật vậy, không ai đánh đổi cả đời mình với rừng như Sơn Núi. Sơn vẫn ở riết trên Phương Bối Am từ sau 1975 đến nay (Phương Bối Am là một vùng đồi rộng ở Bảo Lộc từ Sài Gòn đi quốc lộ 20 lên Đà Lạt, qua cầu Đại Lào, bên tay trái, đi sâu vào xã Lộc Châu tới con dốc dẫn lên một vùng đồi rộng là Phương bối Am. Thầy Nhất Hạnh đã xây một thiền thất giữa đồi thông mênh mông, thơ mộng ấy. Sau 1975, ngôi nhà bị sập, cả vùng đồi tan hoang, chỉ còn lại cái bể cạn lớn, khô nước, trơ bốn vách tường xi măng). Sơn đã đưa gia đình lên đó, che cái mái tranh, vách ván, cả nhà chui vào ở. Sơn, Phượng vợ Sơn cùng chín đứa con, bảy trai hai gái: Thạch, Vân, Thảo, Thuỷ, Không, Lão, Yên, Phương Bối, Tiểu Khê.…”Những đứa trẻ lớn lên cũng hoang dại như núi rừng, không cách chi sinh sống đươc. nên tất cả đều lần lượt được gửi vào nương náu nơi cửa chùa. Ngoại trừ Thạch đã có cuộc sống riêng và cắt đứt liên hệ với gia đình, Thảo nằm kia từ lâu lắm, nấm mồ chơ vơ trên ngọn đối yên ả mây bay. Vân từ chối cơ hội sang Pháp tu học, tạm quay về để gom tất cả bốn người em trai, nuôi ăn học lại dưới một mái nhà tại chân Phương Bối, trong đó Thuỷ đang theo học cao cấp Phật học tại Sài Gòn. Yên, Không, Lão rời chùa về nhà theo thế học.” (Mù hạ, về Phương Bối – Hàm Anh)

Năm 2005, tôi ghé thăm Sơn Núi. Trên đường lên Đà Lạt, Sơn hẹn ở một quán cà phê quen thuộc bên đường quốc lộ gần cầu Đại Lào rồi đi chiếc xe gắn máy cỡ nhỏ hướng dẫn về nhà. Bây giờ đường đi đã mở rộng, xe hơi vào đến đậu ở chân đồi. Trưa im vắng giữa đồi thông xanh lao xao gió, chúng tôi ngồi ăn mâm cơm chay cùng nhau trên nền xi măng cao bên hông căn chòi nhỏ Sơn ở một mình … Nhà gỗ bên dốc trái là Phượng ở cùng hai cô con gái út Phương Bối, Tiểu Khê, rất xinh đẹp, đang học trung học. Tôi còn gặp cháu Yên, người gầy cao giống mẹ, bị chứng đau mắt nặng, ngồi trong bếp phụ mẹ làm cơm trưa đãi khách. Một buổi trưa thật cảm động, với buồng chuối sứ Sơn chặt đem vào …khoe tài trồng chuối, trồng mít của mình ngoài tài trồng cả rừng thông quanh Phương Bối, mà kể lại là cả một câu chuyện dài …đầy máu và nước mắt về Sơn Núi …

Đinh Cường

***

3. NHÃ CA:

Cùng Nguyễn Trung, Nhớ Nguyễn Đức Sơn

Hôm nào? Chẳng thể nhớ nổi. Khoảng bốn giờ chiều. Nguyễn Trung tới.

“Vân. Về sao không lại đằng tao, mầy?

“Biết về, sao mày không chịu vác mặt tới. Còn hỏi.”

“Hơ. Con già mồm. Không lại là gì đây. Mày đang nói chuyện với ai vậy?”

“Với thằng chó. Tao tưởng mày ngán, hết dám lại.”

“A. Cũng ngán tí ti. Chug nó biểu thằng Từ với maỳ là Xê I A . Hắn ra sao rồi?”

“Sao với trăng gì. Còn tù dài dài.”

“Lên nhà cũ ở Gia Định, tưởng tiêu hết rồi chớ. Bữa qua, gặp thằng Nghiễm, mới biết mẹ con mày ở đây. Tao có quà cho mày. Hết xẩy.”

“Quà gì đâu?”

“Từ từ. Lạ thiệt. Thằng chồng mày tên Từ mà mày thì nóng nẩy. Có đế không đã?”

“Đưa quà ra đã mới có rượu.”

“Từ từ. Rượu đã.”

Đành phải kiếm cho Trung một xị. Trong bạn bè của Từ, Trung thân với tôi nhất. Hai đứa quen mày tao chi tớ từ nhỏ.

“Nghe bọn bay bị bắt, chẳng biết sống chết ra sao. Tao phải làm cho xong.”

“Xong cái gì?”

“Cái tranh. Có croquis của mày từ hồi còn ở Ngô Tùng Châu. Đẹp hết xẩy. Nhưng phải mướn xích lô, mới chở cho mày được. Tao đi xe đạp một mình, làm sao cầm.”

Có vài ly đế, chuyện cũ bắt đầu ấm. Trung kể:

“Bữa lang thang gần khu nhà cũ của bọn bay, tao gặp Nguyễn Đức Sơn. Nó mặc áo đà, đầu cạo nhẵn bong. Coi gồ lắm. Nghe đâu trên núi vừa hạ san. Nhìn cái đầu nó trọc lóc, nhớ mày với nồi cá kho hồi ở Trương Minh Giảng, tao buồn cười quá.”

“Có duyên dữ. Bọn tao thì ngồi tù. Còn mày thì cười.”

“Bộ mày với thằng Từ không cười à.”

Cũng phải cười thật. Nguyễn Đức Sơn, hồi trẻ ký là Sao Trên Rừng, cùng đăng thơ trên các tạp chí Hiện Đại, Thế kỷ Hai Mươi, Văn Nghệ thời sáu mươi. Anh có tài lạ: Ngồi yên, hai tai nhúc nhích rồi phe phẩy như hai con bướm. Thấy tôi phục quá, có lần anh còn dọa có thể vận công cho tóc dựng đứng lên được. Thơ Sơn cũng như người, nhiều bất ngờ kỳ dị.

Năm 1961, có hồi Trung thất tình, về khu cầu Trương Minh Giảng ở với vợ chồng tôi. Hai đứa đi làm, Trung ở nhà rầu rĩ, thường phụ tá tôi chợ búa, nấu nướng. Có khi còn trổ tài một mình, chế được nhiều món ăn lạ. Thấy Nguyễn Đức Sơn giang hồ, than đói, Từ kêu Sơn mỗi ngày tới bữa, đạp xe đến nhà cùng ăn.

Được vài tháng vui vẻ, bỗng thấy Nguyễn Đức Sơn biến mất. Một mảnh giấy quăng vô cửa:

“Gửi mấyđứa khốn nạn. Tao biết thừa rồi. Chúng mày có nồi cá kho. Thấy tao tới, giấu biệt đi không dám mang ra ăn. Chúng mày giấu cá kho để tế mồ mả cha ông nhà chúng mày.”

Ba đứa nhìn nét chữ nguệch ngoạc của anh bạn, ngơ ngác một lát rồi phá ra cuời. Thư được đọc đi đọc lại, đứa nào cũng thuộc lòng. Bao nhiêu năm sau, giờ này nhắc lại, cũng vẫn còn cười được.

Dạo ấy, trưa đi làm về, tôi phải ba chân bốn cẳng ghé chợ Trương Minh Giảng, mua tí rau, tí cá. Cá đang kho trên bếp chưa kịp chín, đã phải ăn cơm trước cho kịp đi làm. Thấy mùi cá kho mà không được ăn, thi sĩ nổi ngay cơn lôi đình, bỏ quách Saigon lên giang hồ trên núi.

Ít năm sau, nhận được thư Sơn gởi từ Blao. Không nói chuyện cá kho nữa, Thi sĩ đòi gửi ngay thơ lên cho anh để anh viết lại văn học sử.

Đọc những bài thơ Nguyễn Đức Sơn sau này, chúng tôi biết anh đã vợ con đề huề. Có thơ điên vì mẹ cằn nhằn vợ, vợ cằn nhằn mẹ. Lại có thơ thiền:

Sáng mênh mông
Ta đi dạo
Giữa vườn hồng
Ồ bông
Ồ mộng
Ồ không.

Trung kể thêm về Nguyễn Đức Sơn:

“Bọn bay đi tù. Nó cũng đi tù vậy. Nghe kể, nó để vợ con đâu trên núi, một mình hạ san tìm lương thực. Coi bộ vó kỳ dị quá, bọn công an bắt nó hai ba lần. Có lần đánh gẫy cả xương sườn. May mà bắt chán nó lại thả.”

Tội nghiệp. Đã biết lên non cạo đầu rồi, thi sĩ còn hạ san làm gì, đến nỗi bị công an đánh gẫy cả xương sườn. Những năm sau này, nghe đâu Nguyễn Đức Sơn còn mang vợ con giấu hết vô hang núi, sống như người thái cổ, không tiếp xúc với đồng loại nữa.

Nhã Ca

(Trích Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng, đoạn kể sau khi ra tù cộng sản năm 1977. Trong báo xuân Việt Báo Bính Thân 2016, vì số trang giới hạn, phần viết của Nhã Ca và ghi chú về Tuệ Sĩ được gác lại.)

***

4. PHẠM CAO HOÀNG:
Về Một Bài Lục Bát Không Đề
Của Nguyễn Đức Sơn

Đầu thập niên 90, thỉnh thoảng Nguyễn Đức Sơn đi xe đạp từ Bảo Lộc về Đà Lạt. Khó mà hình dung nổi làm sao anh có thể đạp xe trên một đoạn đường dài như v ậy, một đoạn đường mà nếu đi xe đò cũng phải mất kho ảng 3 tiếng. Thế mà anh v ẫn đi một cách bình thường. Hỏi anh đạp xe có mệt không thì anh cười hì hì, “Không mệt, mà còn khỏe ra”.

Nhà tôi ở Đức Trọng, trước khi đến Đà L ạt phải qua chỗ tôi ở, nên trên đường đi anh thường ghé lại thăm tôi. Lần nào ghé lại anh cũng mang cho tôi m ột ít trà do anh trồng. Tôi quí những gói trà đó lắm, vì đó là tấm lòng của anh. Có khi anh ở lại với tôi một bữa, nhưng ph ần lớn là chỉ trò chuyện năm mười phút hoặc nửa tiếng rồi lại tiếp tục cuộc hành trình bằng chiếc xe đạp mini cọc cạch của mình. ..

Bẵng đi một thời gian lâu tôi không th ấy anh ghé lại, cho đến ngày tôi đi M ỹ định cư cũng không có dịp chào anh. Tôi vẫn nhớ về anh với những đêm gần như thức trắng và những gói trà tình nghĩa của anh, nhưng không biết cách nào liên lạc.

Gần đây, qua anh Đinh Cường, tôi có được số điện thoại cầm tay của Nguyễn Đức Sơn. Tôi chọn một tối thứ sáu, để bên quê nhà là sáng thứ bảy, gọi về thăm anh. Điện thoại bên kia đường dây đổ chuông.

– Vui lòng cho tôi nói chuyện v ới anh Nguyễn Đức S ơn.

Một giọng đàn ông tr ả lời cộc lốc:

– Lão đang ngồi trên núi đây.

Đúng là chàng rồi. Tôi vừa mừng, vừa buồn cười. Vẫn là cái cách nói chuyện rất Nguyễn Đức Sơn ấy.

– Phạm Cao Hoàng đây anh Sơn ơi.

– Đ.M. Hôm trước có người quen cho tôi số điện thoại của ông, tôi gọi hoài mà không liên lạc được.

– Chắc là trục tr ặc sao đó.

Tôi trò chuyện v ới anh gần m ột tiếng đồng hồ. Đúng ra, tôi nghe anh nói là chính. Vẫn là chuyện trồng thông, chuyện mấy đứa con. Tôi rất mu ốn nghe anh đọc thơ nên đề nghị:

– Anh đọc cho nghe một bài thơ của anh đi. Cũ mới gì cũng được.

– Tôi đọc ông nghe bài này, không nhớ là cũ hay mới.

Anh bắt đầu đọc một bài lục bát nói về tình cảm của anh đối v ới người cha đã qua đời. Nghe xong bài thơ, tôi bàng hoàng… Những bài th ơ viết về mẹ thì nhiều, nhưng viết về cha l i quá ít. Trong s ố ít ỏi này, theo tôi, bài th Nguyễn Đức Sơn vừa đọc là một tuyệt tác ở đề tài này. Tôi đề nghị anh đọc lại để tôi chép. Anh vui vẻ đồng ý, đọc chậm từng câu.

xưa ông nội đến nơi này
sóng xanh mơ mộng nh ững ngày thanh niên
sáng chiều bơi lội như điên
tập cha vào cõi vô biên một mình
nước vô mặt mũi lềnh bềnh
cha gần ngộp thở nên kình lại luôn
bây giờ biển cũ mênh mông
dẫu con về thở cũng không kịp rồi
một ngàn tư tưởng xa xôi
rừng cao một khoảnh cha ngồi ru con

Tôi hỏi anh tựa đề bài thơ là gì và viết năm nào. Anh nói không nh ớ viết năm nào và cũng không đặt tựa đề cho bài thơ.

Phạm Cao Hoàng

5. NGUYÊN MINH:

Cha là Sơn Núi. Con là Vân Mây

Lúc tôi chưa gặp chị Phượng, tôi hình dung chị đẹp như một cô “đầm lai”. Như một vài người bạn thân của Nguyễn Đức Sơn diễn tả. Người con gái tuổi mới lớn, mồ côi sống trong một ngôi chùa của người cậu ruột. Mượt mà. Duyên dáng. Và cô là học trò của anh chàng lang bạt kỳ hồ Nguyễn Đức Sơn bấy giờ đang mở lớp dạy tiếng Anh. Nguyễn Đức Sơn tỏ tình với người mình yêu mãnh liệt, không như rụt rè như với nhân vật Mỵ thuở mới biết yêu. Có phải anh đang diễn một vở kịch hay anh đang bộc lộ thật sự tâm trạng mình khi đứng trước miệng cái giếng sau chùa bên cạnh người con gái xinh đẹp, anh tỏ tình bằng cách nói sẽ nhảy xuống giếng nếu cô Phượng từ chối mối tình si này.

“Ái! Đừng…” là tiếng thốt lên từ cửa miệng cô gái, cái nắm tay giữ lại anh chàng si tình, sợ anh ta vì mình mà tự tử thật. Như một định mệnh đã được xếp đặt từ kiếp nào.

Sau đó, Nguyễn Đức Sơn làm đám cưới với cô Phượng. Hôn lễ diễn ra tại Chùa Tây Tạng, Bình Dương như Bửu Ý, Nguyễn Miên Thảo, những người bạn trên nửa thế kỷ trước đã kể lại, đăng trong Quán Văn số 24 này. Cũng như một vở kịch. Một chàng thi sĩ ngông cuồng, một cô vợ Việt lai Tây đẹp như tiên. Một nhà thơ nghèo mạt rệp, và nhất là trong những năm tháng cả nước lao đao, đời sống quá vất vả, điêu linh, biết bao cuộc hôn nhân một thời lý tưởng, đã từng gắn bó lại tan rã, chia ly. Tôi cứ nghĩ chị Phượng đã giã từ ông chồng nhà thơ, nhà văn đói rách này ra đi, trở về quê cha, trời Tây là lẽ đương nhiên.

Tôi đồng ý đi lên Phương Bối Am đầu tiên vì tính tò mò muốn biết về đời sống thường nhật của Nguyễn Đức Sơn là thứ yếu, mà chủ tâm là nhân vật Phượng. Phượng của ngày xưa và Phượng bây giờ…

Chúng tôi ngồi trong mâm chiếu bên những món ăn chay, từ măng non, bắp chuối, khoai lang khoai mì đều được trồng quanh nhà. Gia đình anh từ lâu ăn chay trường quanh năm. Anh đãi khách cũng vậy. Những câu chuyện vui, những mẩu tiếu lâm thời đại Nguyễn Đức Sơn kể với giọng khôi hài, châm biếm làm thu hút mọi người.

Riêng tôi, một hình ảnh bất ngờ tôi nhìn thấy thấp thoáng bên cạnh chiếc cửa gỗ: một người đàn bà ốm o, hai tay vòng lại trước ngực… Bao nhiêu nỗi xót xa và thương mến tôi đổ dồn vào người đàn bà đó. Chị không còn là Phượng ngày xưa… Chị Phượng như mắc nợ Nguyễn Đức Sơn từ kiếp nào giờ phải trả cho hết trọn đời.

Nguyễn Đức Sơn cũng vậy, kiếp này anh phải sống ngông cuồng cho kiếp trước quá hiền lành, nhu nhược. Như bù trừ. Kiếp này anh phải làm thi sĩ mà thôi. Không phải tự nhiên mà các con anh thành những nhà sư. Ai xui khiến Nguyễn Hữu, một người bạn trẻ của anh, mang các con anh gởi vào chùa nuôi dưỡng từ nhỏ, lớn lên họ đã thành những Đại Đức của Phật Giáo. Không phải tự nhiên mà Nguyễn Đức Vân trở vể Bảo Lộc lập am trồng sim trên một ngọn đồi riêng.

Cách đây hai năm, Đinh Cường có đưa cho tôi hai dĩa CD thu những bản nhạc do Nguyễn Đức Vân sáng tác hoặc phổ thơ cha anh. Nguyễn Đức Vân ca ngợi tình Người Mẹ yêu thương con. Hình ảnh của chị Phượng. Tôi nghe những bản nhạc của Nguyễn Đức Vân với những cảm xúc mênh mông. Tôi chỉ viết về nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đức Vân chứ không nói đến Đại đức Thích Giới Lực. Bây giờ, tôi nói nhỏ với anh như vầy: Cha anh, Nguyễn Đức Sơn là Sơn Núi. Với anh, Nguyễn Đức Vân là Vân Mây. Cha là Núi, Con là Mây. Và, hơn hết, bên cạnh cha con anh, còn có một người đàn bà mang tên Phượng. Nàng như một cái bùa hộ mệnh.

Nguyên Minh

[Trích các tạp chí Thư Quán Bản Thảo, số 50, tháng 2, 2012; Quán Văn, số 24, Tháng 7, 2014]

Có lần nhà thơ Nguyễn Đức Sơn đến thăm tôi. Anh bảo: Ông Khế, nếu ông đăng cho tôi bài thơ này. Tôi sẽ trả nhuận bút ngược lại cho tờ báo của ông.
” ĐM cái bông
Mày sống giữa đồng
Mày không lao động
ĐM cái bông.”
Thấy ông sống giữa đồi núi đèo heo hút gió của huyện Bảo Lộc, có lúc ông bị những người dân chung quanh kiếm chuyện tranh chấp đất đai, đánh ông. Ông đưa vết thương cho tôi coi. Tôi bèn điện lên cho mấy người trong chính quyền mà tôi quen ở đó để can thiệp.
Thấy ông khổ quá. Tôi đề nghị ông nên về dưới này, sống gần tụi tôi, có gì còn qua lại. Những lần như vậy, tôi chú ý ông không mảy may để ý đến đề nghị mà đối với tôi là rất nghiêm túc đó.
Hôm nay ông và thơ ông đã cùng đi về Trời. Nghĩ lại, thấy mình cũng không dễ gì hiểu được ông và thơ ông trọn vẹn. Ông, nói như nhà phê bình Đặng Tiến, có ba chữ: Ngọn núi lớn.
Hôm nay, chúng ta tiễn ngọn núi lớn của thơ ra đi.

Nguyễn Công Khế

Bình luận

Visits: 181
Today: 4
Total: 113610

Nổi bật

Thư viện

Follow Us