Share on facebook
Share on twitter
Share on email
Share on skype

12/06/2020: Quan cảnh tang lễ thi sĩ Nguyễn Đức Sơn, sáng mai hoả táng tại Đài hoá thân Dalat.

Image may contain: outdoor

Image may contain: indoor

Image may contain: tree, plant, grass, outdoor and nature

Image may contain: text

Nguồn: Tâm Thái Hòa

Chu Mộng Long

VĨNH BIỆT NHÀ THƠ, KỲ NHÂN SƠN NÚI

Một lần dự Hội thảo khoa học tại Trường Đại học KHXH và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh, sau khi báo cáo đề tài xong, tôi được ông Trần Trọng Đăng Đàn bắt tay, khen báo cáo của tôi hay và tặng tôi quyển sách dày cộp “Văn hóa văn nghệ… Nam Việt Nam 1954 – 1975”.

Quyển sách này tôi có từ lâu, đã đọc, nay cứ nhận lấy cho ông vui. Một ông nguyên trùm tuyên giáo và kiểm duyệt viết trên bìa dòng chữ đề tặng GS. Châu Minh Hùng, không vui thì hóa ra mình là kẻ thù địch.

Phải nói là nhờ ông Trần Trọng Đăng Đàn mà tôi biết thêm về văn hóa văn nghệ miền Nam trước 1975, điều tôi chỉ biết qua loa rằng đó là nền văn hóa văn nghệ đồi trụy, phản động.

Cuốn sách phê phán kịch liệt giới văn nghệ sĩ miền Nam, trong đó có cả phần liệt kê danh sách dài những tên tuổi và sách cấm cùng với phát động phong trào tiêu hủy cái nọc độc do Mỹ – Ngụy để lại.

Điều để tôi tiếp xúc với mảng văn hóa văn nghệ này là phần ông Trần Trọng Đăng Đàn dẫn chứng sau những lời phê phán kịch liệt. Trong số những tên tuổi danh tiếng như Võ Phiến, Duyên Anh, Mai Thảo, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Du Tử Lê, Thanh Tâm Tuyền,… tôi biết đến nhà thơ, kỳ nhân Nguyễn Đức Sơn, biệt danh Sơn Núi.

Trong số những bài thơ được Trần Trọng Đăng Đàn liệt vào hạng “quái thai”, “quái đản”, tôi cười đến sặc cafe khi đọc đến bài Vui đời ẩn sĩ:

Giữa trưa nằm nghĩ quanh
Thấy đời sao muốn chửi
Ngẫm một kiếp qua nhanh
Ngồi buồn móc đít ngửi.

Freud mà đọc được bài thơ này sẽ bảo lão Sơn Núi nhà ta quay lại giai đoạn hậu môn (The Anal Stage), giai đoạn mà trẻ con xem hậu môn là một cơ quan tính dục đầy khoái lạc. Ừ thì khoái lạc trẻ con, nhưng bất giác sau nụ cười của bài thơ, tôi lại thấm vị chua chát của nỗi buồn. Buồn kiếp người quẩn quanh. Buồn kiếp người ô nhục… Tôi khẳng định không có bài thơ nào buồn hơn bài thơ này, dân gian gọi là buồn thúi ruột. Có ngửi mới biết thúi. Mà đã biết thúi thì… không còn là trẻ con!

Nguyễn Đức Sơn có trang Facebook đăng lại những bài thơ của chính ông. Tôi gặp những bài thơ ngắn sau:

Cái lỗ của em
Cùng với cái lỗ huyệt
Mở ra hai đầu sinh tử bất tuyệt
*
Luận về không hay có
Đâu bằng nhìn cái mồng của em
Sắp ló
*
Cái lồn
Chúa ồn
*
Có bay cao chin tầng trời
Chỉ nghe thượng đế ngàn đời nín thinh
Có dòm sâu tận cửa mình
Cũng không thấy được cái hình thế gian

Ông nói: “Đố ai không bảo tôi tục tĩu dâm dục bởi vì quả thật tôi có tục tĩu, dâm dục! Ðó mới là chỗ chết, là cửa tử cho bao nhiêu bài thơ tức thở kia vì trót đụng tới Càn Khôn Tịch Mịch.” Tôi đã từng giải cấu cái “càn khôn tịch mịch” trong công trình giải huyền thoại của mình, rằng con người bắt đầu nhận thức đầy khoái lạc cái lỗ huyệt sinh tử trên thân xác của mình trước khi nhận ra trời đất và hướng về cao xanh. Hậu quả, khi hướng về cao xanh, con người tưởng thoát khỏi vô minh nhưng lại càng vô minh bởi những hoang tưởng đồng bóng. Trong khi sự thực, kẻ đồng bóng nhất cũng không thể thoát tục với sự sống quẩn quanh ăn ngủ đụ ỉa bám víu hết một đời,

Nhớ năm trước, tôi có cuộc cãi nhau khốc liệt với đám họa sĩ vẽ tranh khỏa thân. Họ khăng khăng khi dùng người mẫu khỏa thân, họ không hề bị vướng víu gì về thể xác. Họ hoàn toàn chỉ vì mỹ cảm. Tôi hỏi “mỹ cảm” là cái gì vậy? Không ai trả lời được, chỉ nói điêu theo cách của anh thái giám nhìn vua ân ái với cung nữ: “là chỉ có sự thăng hoa”. Tôi thì vẫn khẳng định theo cách của anh dân quê: “Thăng cái con kẹc!” Bởi nếu không thăng cái thể xác làm gì có thăng cái tâm hồn? Chẳng qua bị cấm kỵ mà con người che trên đậy dưới rồi nhầm tưởng mình đã thành thần tiên!

Trong bối cảnh văn chương bị cái hàng rào dày đặc của cấm kỵ, kiểm duyệt, văn nghệ sĩ ngày một thủ dâm trong trong cái mặt nạ đạo đức văn hóa rởm, tôi tìm thấy ông một con người trần tục đến nguyên sinh và chân thực, từ đó nhận diện ra cái “bản lai diện mục” đúng nghĩa của mình. Lẽ ra đó là điều hết sức bình thường, nhưng giữa cái bất bình thường đang thống trị, ông trở thành một kỳ nhân, bất thường đến mức làm cho người ta sợ hãi.

Vĩnh biệt ông!. Mấy dòng này tiễn ông về cõi “càn khôn tịch mịch” như trước khi ông được sinh ra.

Chu Mộng Long

CHẾT Ở RỪNG PHƯƠNG BỐI

Kính tặng thi sĩ Nguyễn Đức Sơn

Anh nằm xuống giữa khuya
Rừng thông còn ngủ
Chỉ có Phượng buồn
Và mấy thằng con tụng đọc Tâm Kinh Bát nhã.
Anh nằm xuống
Rừng khuya im lá
Nắng mai lên
Thông Phương Bối nghiêng mình.
Anh làm thinh
Trời đất cũng làm thinh
Ngôn ngữ thành tinh
Ám ảnh từng lá cây bụi cỏ
Xốc vào cả sâu trùng nhím bọ
Rúc rỉa khắp châu thân
Kết tinh thành lệ trong ngần
Đọng trên vũ bão phong vân mịt mù.
Anh nằm xuống
Quăng lại cho đời mấy câu thơ lộc cộc
Rưng rức cả trăm năm…

Rừng Phương Bối, sáng 11/06/2020
Nhất Thanh.

TUẤN KHANH

Nguyễn Đức Sơn đã bỏ lại sau lưng những học thuyết mà một thời tuổi trẻ ông đã say mê. Đối với ông, cái duy nhất còn đọng lại trong hồn ông bấy giờ là tiếng gà gáy trong những đêm trăng của thời thơ ấu đã xa xôi mà ông đã lắng nghe được trong những đêm khuya tĩnh mịch ngồi nhìn chiếc bóng của mình in trên vách Phương Bối Am nơi núi rừng đại ngàn Bảo Lộc”. (Thích Phước An – Những ngày xuân hoang vu của Nguyễn Đức Sơn)

Nói như vậy, có nghĩa, cuộc đời của Nguyễn Đức Sơn là chuỗi vật vã với hiện thực và lý thuyết, về kỳ vọng và thất vọng, về níu giữ và buông bỏ. Cuối cùng ông chọn cách đi qua, đối diện với tận cùng của vũ trụ, cảm nhận sự vô cùng của thinh không và kiêu hãnh đau đớn về giới hạn của một con người. Thơ ông gánh hết những nỗi niềm đó. Thơ của ông thoang thoảng trong đó, bản lai diện mục của mỗi chúng ta.

Đọc thơ, như có sự gào thét một cách cợt nhả, sự giận dữ như một bài hát ma mị không có đoạn kết. Cách vung vãi từ ngữ kỳ tài của ông như cách ném đi những mầm cây, tưởng vô chừng, thế rồi tạo nên những khu rừng độc đáo, dị ảo.

Tập chút lời mênh mông, giữ lại những điều chưa từng in, chưa từng được biết, như một phần quý giá của văn hóa Việt, như di chúc hoang vu, như trong bài Chút lời mênh mông.

Một mai cha chết đừng chôn
Ngại chưa xuất kịp chút hồn thiết tha
Cái gì cha nói chưa ra
Biết đâu còn sót trong da máu này
Tuy nhiên đừng để lâu ngày
Đốt ngay lập tức là hay nhất đời
Con mang tro bụi xa vời
Gửi cho thiên địa chút lời mênh mông

Dũng Trung Kqd

Năm ngoái, có việc trên đồi Phương Bối, gặp Vân (con trai thi sỹ Nguyễn Đức Sơn), mình nhờ:
“Thày dẫn tôi xuống thăm cha thày nhé!”
Vân bảo:
“Khỏi đi, ổng không khoẻ”.
“Thày nghĩ cha mình là người thế nào?”
Vân bảo:
“Bình thường! Thày đọc cho anh nghe thơ thày nhé! Bài này báo X,Y… vừa xin đăng…”
Ngồi nghe mấy bài thơ của Vân xong, mình vừa nhổm dậy vừa nói:
“Cha thày là một kỳ nhân, là bậc vĩ đại, dị thường hiếm hoi còn sót lại của nước Việt sa sút này!”
Chia tay Vân gấp gáp, khi ngang Phương Bối, mình chắp tay bái vọng vào phía sau rừng thông, nơi mà mình nghĩ ở đó chắc chắn có một ngọn núi đang ngất ngưỡng trên đồi.
Hôm nay nghe ông mất.
Hôm nay mình có đi ngang đó nhưng đắn đo mãi và quyết định không vào thắp hương.
Khi đến cầu Đại Lào, mình cho xe chạy thật chậm và cúi đầu tiễn biệt tiền bối. Vậy thôi!

Những năm tháng này cứ lần lượt vĩnh biệt dần những bậc tài hoa của đất nước!
Không buồn, không vui nhưng vô cùng ngưỡng mộ, kính trọng và biết ơn!
Thành kính phân ưu với người thân và gia đình ông! Ông Sơn Núi dị kỳ!

Đêm 11/06/2020

BÀI TÂM KINH MẦU NHIỆM

Nhận tin thi sĩ Nguyễn Đức Sơn từ trần, tôi gọi điện thoại hỏi han. Nguyễn Đức Lão nói với tôi “Ba con mất rồi, nhờ thầy xuống giúp lo mọi việc, chúng con bối rối quá”. Tôi cấp tốc từ Đại Ninh xuống Bảo Lộc, đến Đại Lào. Rừng Phương Bối trong nắng mai vẫn tĩnh lặng. Bước vào ngôi nhà nhỏ giữa rừng thông, một âm thanh là lạ vọng ra từ căn phòng ấm: “Bồ-tát Quán Tự Tại, khi quán chiếu thâm sâu, Bát-nhã Ba-la-mật, tức Diệu pháp Trí Độ, bỗng soi thấy năm uẩn, đều không có tự tánh. Thực chứng điều ấy xong, Ngài vượt qua tất cả, mọi khổ đau ách nạn…”. Tôi tụng Bát -nhã Tâm Kinh gần 40 năm rồi, chưa bao giờ bài tâm chú có năng lực thôi miên như khi nghe anh Nguyễn Đức Yên ngồi chắp tay trang nghiêm bên thi hài của người cha vừa quá cố, mà anh đọc bằng bản dịch nghĩa (của Thiền sư Nhất Hạnh) chứ không phải bản âm Hán của ngài Huyền Trang. Tôi đứng lặng sau lưng anh rất lâu, lắng nghe bài tâm kinh mầu nhiệm, thiết nghĩ chẳng cần phải niệm Phật tiếp dẫn, chẳng cần khai thị sẻ chia gì. Cái âm thanh đầy nội lực của con trai thi sĩ đủ nhiếp dẫn hương linh về cõi chơn không thường trụ. Đến khi Thầy Ngộ Chánh (Nguyễn Đức Lão) bước vào, nhìn thấy tôi, vì quá mừng nên sụp lạy và khóc, làm phá vỡ cái không khí tuyệt vời đang diễn ra. Phía dưới chân thi sĩ, chị Phượng, vợ anh, người đàn bà ấn tượng, đẹp như một bức tranh, ngồi lặng lẽ, không buồn, không vui, như đang xem một trang sách. Tiếp tôi là Thầy Nguyễn Đức Vân, tôi gọi vậy vì chẳng nhớ pháp danh, điềm tĩnh và an nhiên, lặng lẽ. Mấy anh em khác thì lo trà nước, Phương Bối và Tiểu Khê đứng đứng, ngồi ngồi, ra điều nhà đang có chuyện, nhưng vẫn trong sáng, hồn hậu, và đẹp nữa. Trưa tôi được mời lên ngôi thất vừa mới hoàn thành dành cho anh Vân, người suốt đời ở bên cha, chăm sóc và chia sẻ. Ngôi thất nhỏ, chứa đầy kinh sách nằm giữa rừng thông mát rượi. 13h30 Chư tăng làm lễ nhập liệm, đơn giản, nhẹ nhàng. Liệm xong, bài Kinh Bát Nhã lại tiếp tục vang lên trong căn phòng nhỏ, chất giọng ấm, chắc, như đã lặn sâu trong đó nhiều năm nhiều tháng. Tôi chợt nghĩ: Nguyễn Đức Sơn không cho con anh học chữ, nếu có học được một chữ, thì đó chính là chữ KHÔNG. Cả khu rừng Phương Bối mà cha con anh suốt mấy mươi năm trồng trọt và bảo vệ trước sự công phá của xã hội văn minh, trong giờ phút sinh ly tử biệt này, bỗng bi tráng và phiêu diêu đến lạ. Nghe tin anh mất tôi lo, lo cho phần còn lại. Nhưng khi xuống nhìn khuôn mặt chị Phượng, khuôn mặt Nguyễn Đức Vân, nhìn ánh mắt Phương Bối, khuôn mặt và ánh mắt của Tiểu Khê, nhất là nghe giọng trì tụng Tâm Kinh của Nguyễn Đức Yên, tôi cảm thấy an lòng và vui quá đỗi. Chẳng có gì phải lo khi Nguyễn Đức Sơn đã chuẩn bị cho vợ con quá kỹ: một rừng cây, một bầu trời với vô vàn tinh tú, còn gì hơn thế nữa:
“Mai kia có vợ con rồi
Cha không bắt buộc con ngồi con tu
Ba ngàn thế giới mịt mù
Kiếm đâu của cải nào bù gió trăng”.


Tôi lên xe ra về giữa hai hàng thông khi nắng chiều buông xuống, bên tai vẫn còn văng vẳng bài Tâm Kinh rót thẳng xuống phận người: “Khi một vị Bồ tát, nương Diệu pháp Trí Độ, thì tâm không chướng ngại. Vì tâm không chướng ngại, nên không có sợ hãi, xa lìa mọi mộng tưởng, xa lìa mọi điên đảo, đạt Niết Bàn tuyệt đối…
Gate, Gate, Paragate, Parasamgate, Bodhi Svaha.


Chú thích ảnh:
Hình 1 và 3: Chị Phượng (vợ anh NDS) cùng Tiểu Khê, người con gái út.
Hình 2: Phương Bối, đứa con gái gần gũi với cha nhiều nhất, thường được thi sĩ chở đi thăm thố khắp các chùa, nên rất thuần thành, dễ thương.
Hình3: Nguyễn Đức Vân, nhà thơ, tu sĩ, người được báo Thanh Niên bình chọn là người giống Tổng thống Obama nhất thế giới.
Hình 4: Nguyễn Đức Yên, người quỳ trước, Nguyễn Đức Thạch, con trai trưởng, bên phải, bên trái là chồng của Phương Bối.

Vĩnh Minh Tự Viện.

Image may contain: 3 people, people standing and outdoor

Image may contain: 1 person, sitting

Image may contain: 2 people, hat

Image may contain: one or more people and people sitting

Image may contain: 2 people, people sitting and hat, text that says 'SAPPORO'

Bình luận

Visits: 280
Today: 1
Total: 113525

Nổi bật

Thư viện

Follow Us